GIA ĐÌNH THÁNH TÂM

Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI VIẾT MỚI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI VIẾT MỚI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Con thuyền Giáo Hội là của Chúa. Người luôn điều khiển và không để nó chìm




Con thuyền Giáo Hội không phải của tôi, không phải của chúng ta, nhưng là của Chúa, và Người không để cho nó chìm. Chính Chúa điều khiển nó, chắc chắn cả qua các người mà Người đã chọn, bởi vì Người đã muốn như thế. Thiên Chúa hướng dẫn giáo Hội, Người luôn đỡ nâng Giáo Hội nhất là trong những lúc khó khăn. Người luôn ở gần chúng ta, Người không bỏ rơi chúng ta, Người ở gần chúng ta và bao bọc chúng ta với tình yêu của Người. Chúng ta đừng bao giờ mất đi quan niệm đức tin này, là quan niệm duy nhất đích thật của con đường của Giáo Hội và của thế giới.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói như trên với 170.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung cuối cùng của ngài tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 27-2-2013. Thật thế, buổi tiếp kiến sáng 27-2-2013 đã là buổi gặp gỡ cuối cùng với Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong triều đại của ngài, vì vào lúc 20 giờ tối thứ năm 28-2-2013 giờ Roma, Đức Thánh Cha kết thúc nhiệm vụ giáo hoàng. Tông Tòa sẽ trống ngôi, và trong vài ngày nữa, có thể là thứ hai tuần tới đây Đức Hồng Y Nhiếp Chính sẽ chủ sự buổi họp của Hồng Y Đoàn để quyết định ngày khai mạc Mật Nghị Hồng Y bầu Giáo Hoàng mới.

Đáng lý ra trong mùa này buổi tiếp kiến sáng thứ tư diễn ra trong đại thính đường Phaolô VI, nhưng để nhiều tín hữu có thể tham dự buổi gặp gỡ vị Cha chung lần cuối cùng, buổi tiếp kiến đã được tổ chức tại quảng trường thánh Phêrô. Trời Roma trong xanh có nắng ấm rất đẹp, như thể mùa xuân đã bắt đầu. Ngay từ 5 giờ sáng, hàng trăm xe buýt chở các đoàn hành hương từ các giáo phận Italia hay từ các nước khác đã đổ tìn hữu xuống quanh quảng trường thánh Phêrô, để mọi người xếp hàng đi qua các trạm kiểm soát diện tử vào quảng trường. Phủ giáo hoàng đã phân phát 50.000 vé, nhưng số tín hữu tham dự đã lên tới 170.000, đặc biệt có rất đông sinh viên học sinh và các bạn trẻ. Các Đại học giáo hoàng Roma đều cho sinh viên nghỉ để có thể tham dự buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha, và cùng với tín hữu khắp nơi bầy tỏ lòng yêu mến, tình liên đới, sự gắn bó gần gũi và biết ơn ngài, vì những gì Đức Thánh Cha đã cống hiến cho Giáo Hội và cho toàn thế giới trong các năm qua.

Nhiều đoàn tìn hữu mặc áo mầu đồng phục hay có mũ, khăn và cờ để dễ nhận ra nhau. Các đoàn tín hữu đã mang theo rất nhiều cờ, cờ Tòa Thánh cũng như cờ quốc gia, và nhiều biểu ngữ viết tên thành phố của họ và các câu như: ”Cám ơn Đức Thánh Cha Biển Đức XVI”, ”Ngài luôn luôn là Phêrô và giới trẻ chúng con yêu mến ngài”, ”Thưa Đức Thánh Cha, chúng con yêu mến ngài”, ”Chúng con gần gũi ngài”, ”Luôn luôn với Đức Giáo Hoàng”, ”Cảm ơn Đức Thánh Cha nhiều lắm” vv...

Sau khi bắt đầu triều đại giáo hoàng của mình Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã có buổi tiếp kiến chung lần đầu tiên ngày 27 tháng 4 năm 2005. Trong gần 8 năm làm Giáo Hoàng ngài đã có 348 buổi tiếp kiến chung với 5.116.600 tín hữu tham dự. Số tín hữu tham dự đông nhất là vào năm 2006 với 45 buổi tiếp kiến và 1.031.500 người. Trong năm đầu đã có 32 buổi tiếp kiến với 810.000 người tham dự. Các năm khác đã có từ 42 tới tới 45 buổi tiếp kiến với con số tham dự xê xích từ 447.000 tới 729.000 người.

Riêng cho buổi tiếp kiến lịch sử sáng thứ tư 27-2-2013, ban kỹ thuật Tòa Thánh đã dựng thêm 4 màn truyền hình khổng lồ khác để cho các tín hữu đứng ở đường Hòa Giải cũng có thể theo dõi. Hiên diện trong buổi tiếp kiến cuồi cùng sáng 27-2 ngoài khoảng 70 Hồng Y, hàng chục Tổng Giám Mục, Giám Mục, các Đức Ông thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh, hàng ngàn Linh Mục tu sĩ nam nữ các dòng tu và các trường quốc tế, ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, còn có Đại quận công thừa kế Guillaume nước Luxembourg, tổng thống Slovac Ivan Gasparovic và phái đoàn, ông Horst Seehofer, thống đốc bang Bavière Nam Đức và phái đoàn, ông Renato Balduzzi Bộ trưởng Y tế Italia, ông Jorge Fernandez Diaz, Bộ trưởng Nội vụ Tây Ban Nha, chị Maria Voce, lãnh đạo phong trào Tổ Ấm, Anh Kiko Argello, lãnh đạo phong trào Con đường tna dự tòng, thầy Alois Đan viên trưởng Đan viện đại kết Taizé vv...

Đã có hàng chục đoàn hành hương giáo phận Italia do chính các Tổng Giám Mục và Giám Mục hướng dẫn. Trong các phái đoàn hiện diện củng có một nhóm tín hữu Việt Nam từ Đức.

Trong buổi tiếp kiến hôm qua đã không có nghi thức hôn tay Đức Giáo Hoàng như thường lệ. Nhưng sau đó tại phòng Clemente một só nhân vật quan trọng có thể đến chào Đức Thánh Cha và hôn tay ngài.

Trong suốt mấy tiếng đồng hồ chờ đợi Đức Thánh Cha, các sinh viên học sinh và bạn trẻ đã liên tục gọi tên Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, hát xướng và vỗ tay, trong bầu khí của lễ hội, giống như trong các Ngày Quốc Tế Giới Trẻ. Lúc 10 giờ các Đức Ông thuộc Phủ Quốc Vụ Khánh Tòa Thánh đã chào tín hữu và giới thiệu các nhóm tham dự. Khi nghe xướng tên nhóm mình tín hữu, đặc biệt là các bạn trẻ, đã hô to lên.

Lúc 10 giờ 40 xe díp trắng chở Đức Thánh Cha Biển Đức XVI xuất hiện từ phía trái Đền Thờ Thánh Phêrô giữa tiếng vỗ tay của tín hữu, những tràng pháo tay xem ra e dè hơn và đượm một nỗi buồn nào đó. Xe chở Đức Thánh Cha đi một vòng giữa các lối đi ở quảng trường để ngài chào tín hữu, trước khi lên khán đài chính giữa thềm đền thờ thánh Phêrô.

Sau khi Đức Thánh Cha làm dấu thánh giá khai mạc buổi tiếp kiến, các Đức Ông thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã đọc bài Sách Thánh trích từ chương 1 thư thánh Phaolô gửi tín hữu Côlôxê, bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.

Mở đầu bài huấn dụ Đức Thánh Cha cám ơn tín hữu đã đến đông đảo như vậy để tham dự buổi tiếp kiến cuối cùng trong triều đại giáo hoàng của ngài. Đức Thánh Cha nói: ”Như tông đồ Phaolô trong văn bản Kinh thánh chúng ta vừa nghe, tôi cũng cảm thấy trong tim tôi nhất là phải cám ơn Thiên chúa, là Đấng dẫn dắt và làm cho Giáo Hội lớn lên, là Đấng gieo vãi Lời Người và như thế đưỡng nuôi đức tin Dân Người. Trong lúc này đây tâm hồn tôi nới rộng ra để ôm trong vòng tay toàn thể Giáo Hội rải rác trên thế giới; và tôi cảm tạ Thiên Chúa vì các ”tin tức”, mà trong các năm này của sứ vụ Phêrô tôi đã có thể nhận được liên quan tới niềm tin nơi Chúa Giêsu Kitô, và về tình bác ái luân lưu trong Thân Mình của Giáo Hội và khiến cho nó sống trong tình yêu và niềm hy vọng, rộng mở chúng ta và hướng chúng ta tới cuộc sống tràn đầy, tới quê hương trên Trời. Tôi cảm thấy mình mang tất cả mọi người trong lời cầu nguyện, trong một hiện tại là hiện tại của Thiên Chúa, nơi tôi tiếp nhận mọi cuộc gặp gỡ, mọi chuyến du hành và mọi cuộc viếng thăm mục vụ. Tất cả và mọi người tôi đều đón nhận trong lời cầu nguyện để tín thác cho Chúa: để chúng ta am tường thánh ý Người, với tất cả sự khôn ngoan và hiểu biết tinh thần, và để chúng ta có thể có cung cách hành xử xứng đáng với Người, với tình yêu thương của Người, bằng cách mang lại hoa trái trong mọi việc lành (Cl 1,9-10).
Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Trong lúc này đây, trong tôi có một sự tin tưởng lớn lao, bởi vi tôi biết chúng ta tất cả đều biết rằng Lời chân lý của Tin Mừng là sức mạnh của Giáo Hội, là sự sống của Giáo Hội. Tin Mừng thanh tẩy và canh tân, đem lại hoa trái, bất cứ nơi đâu cộng đoàn tín hữu biết lắng nghe và tiếp nhận ơn thánh Chúa trong chân lý và sống trong tình bác ái. Đó là sự tin tưởng của tôi, đó là niềm vui của tôi. Ngày 19 tháng Tư cách đây gần 8 năm, khi tôi đã chấp thuận lãnh nhận sứ vụ Phêrô, tôi đã có sự chắc chắn này và nó đã luôn đồng hành với tôi. Trong lúc này đây, cũng như tôi đã nói lên nhiều lần, các lời đã vang lên trong tim tôi: Lậy Chúa, Chúa xin con điều gì? Đây là một gánh nặng lớn mà Chúa đặt lên vai con, nhưng nếu Chúa xin con, thì dựa trên lời Chúa con sẽ thả lưới, chắc chắn rằng Chúa sẽ hướng dẫn con. Và Chúa đã thực sự hướng dẫn tôi, gần gũi tôi, tôi đã có thể nhận thấy hằng ngày sự hiện diện của Người.” Nhìn lại gần 8 năm triều đại giáo hoàng của người Đức Thánh Cha nói: ”Đó đã là một đoạn đường của Giáo Hội, có những lúc vui, có ánh sáng, nhưng cũng có những lúc không dễ dàng. Tôi đã cảm thấy như thánh Phêrô với các Tông Đồ trong con thuyền trên hồ Galilea: Chúa đã cho chúng ta biết bao nhiêu ngày có mặt trời và gió mát hiu hiu, những ngày trong đó đã đánh được đầy cá; nhưng cũng có những lúc trong đó nước động và gió ngược, như trong suốt lịch sử của Giáo Hội và xem ra Chúa ngủ. Nhưng tôi đã luôn luôn biết rằng trong con thuyền ấy có Chúa và tôi đã luôn luôn biết rằng con thuyền Giáo Hội không phải của tôi, không phải của chúng ta, nhưng là của Chúa, và Người không để cho nó chìm; chính Chúa điều khiển nó, chắc chắn qua cả các người mà Người đã chọn, bởi vì Người đã muốn như thế. Đây đã và hiện là một sự chắc chắn, mà không gì có thể làm lu mờ. Và chính vì thế mà hôm nay tim tôi tràn đầy sự cảm tạ Thiên Chúa, bởi vì Người đã không bao giờ để cho Giáo Hội, và cho cả tôi nữa, phải thiếu sự ủi an, ánh sáng và tình yêu của Người.”

Đề cập tới Năm Đức Tin đang tiến hành Đức Thánh Cha nói: ”Chúng ta đang ở trong Năm Đức Tin mà tôi đã muốn để củng cố đức tin của chúng ta nơi Thiên Chúa, trong một bối cảnh xem ra ngày càng đặt để lòng tin vào hàng thứ yếu. Tôi muốn mời gọi từng người cảm thấy được yêu thương bởi Thiên Chúa, là Đấng đã ban Con Người cho chúng ta và đã cho chúng ta thấy tình yêu vô biên của Người. Tôi muốn từng người cảm thấy niềm vui được là kitô hữu. Có một lời cầu đẹp cần đọc mỗi sáng nói rằng: ”Lậy Thiên Chúa của con, con thờ lậy Chúa, và con yêu mến Chúa với tất cả trái tim con. Con cảm tạ Chúa đã tạo dựng nên con, đã cho con là tín hữu kitô...”. Vâng, chúng ta hài lòng vì ơn đức tin; đó là thiện ích lớn lao nhất, mà không ai có thể lấy mất! Chúng ta cảm tạ Chúa về ơn đó mỗi ngày, với lời cầu nguyện và với một cuộc sống kitô trung thực. Thiên Chúa yêu thương chúng ta, nhưng cũng chờ đợi chúng ta yêu thương Người!”

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã cám ơn các cộng sự viên và mọi thành phần dân Chúa và nói: ”Nhưng trong lúc này tôi không chỉ muốn cảm tạ Thiên Chúa mà thôi. Một Giáo Hoàng không một mình hướng dẫn con thuyền của Phêrô, cả khi trách nhiệm đầu tiên là của người; và tôi đã không bao giờ cảm thấy cộ đơn trong việc mang niềm vui và gánh nặng của sứ vụ Phêrô. Chúa đã đặt bên canh tôi biết bao nhiêu người đã giúp đỡ và gần gũi tôi, với sự quảng đại và tình yêu thương đối với Thiên Chúa và Giáo Hội. Trước hết là anh em, các Hồng Y thân mến: sự khôn ngoan, các lời khuyên và tình bạn của anh em đã rất qúy báu đối với tôi; các cộng sự viện của tôi, bắt đầu là Quốc Vụ Khanh và tất cả các cơ quan trung ương Tòa Thánh, cũng như tất cả những người phục vụ Tòa Thánh trong các lãnh vực khác nhau,: có biết bao khuôm nặt không nổi bật, ở trong bóng tối, nhưng chính trong thinh lặng, trong sự tận tụy hằng ngày, với tinh thấn đức tin và lòng khiêm tốn, đã là một sự nâng đỡ chăc chắn và đáng tin cậy. Một tư tưởng đặc biệt tôi xin gửi tới Giáo Hội Roma, giáo phận của tôi. Tôi không thể quên các anh em trong Hội Đồng Giám Mục và Linh Mục, các người sống đời thánh hiến và toàn thể Dân Chúa: trong các chuyến viếng thăm mục vụ, trong các cuộc gặp gỡ, các buổi tiếp kiến, các chuyyến công du, tôi đã luôn luôn trực giác được sự chú ý lớn lao và lòng trìu mến sâu xa. Tôi cũng đã yêu thương tất cả và từng người một, mà không phân biệt, với tình bác ái mục tử là con tim của mọi Chủ Chăn, nhất là của Giám Mục Roma, của Người Kế Vị Tông Đồ Phêrô. Mỗi ngày tôi đã mang từng người trong anh chị em trong lời cầu nguyện của tôi, với con tim của một người cha.”

Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: ”Tôi muốn rằng lời chào và cảm ơn của tôi tới được với tất cả mọi người: trái tim của một Giáo Hoàng mở rộng ra cho toàn thế giới. Và tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi với Ngoại Giao Đoàn cạnh Tòa Thánh, khiến cho đại gia đình của các quốc gia hiện diện. Ở đây tôi cũng nghĩ tới tất cả những ai làm việc cho một sự truyền thông tốt đẹp và tôi xin cám ơn công việc phục vụ của họ. Tới đây tôi muốn thật sự hết lòng cám ơn tất cả mọi người trên thế giới trong các tuần qua đã gửi tới tôi các dấu chỉ cảm động của sự chú ý, tình bạn và lời cầu nguyện. Phải, Giáo Hoàng không bao giờ cô đơn, giờ này tôi còn cảm nghiệm được điều đó một lần nữa đánh động con tim một cách lớn lao như vậy. Giáo Hoàng thuộc về tất cả mọi người, và biết bao nhiêu người cảm thấy họ gần gũi ngài. Có đúng thật là tôi đã nhận được rất nhiều thư của các nhân vật quan trọng trên thế giới - từ các quốc trưởng các nước, từ các vị lãnh đạo tôn giáo, từ các đại diện của thế giới văn hóa vv... Nhưng tôi cũng nhận được rất nhiều thư của những người đơn sơ viết cho tôi một cách dơn sơ từ trái tim của họ, và khiến cho tôi cảm thấy lòng thương mến của họ, nảy sinh từ việc cùng nhau ở với Chúa Giêsu Kitô, trong Giáo Hội. Các người này không viết cho tôi, ví dụ như viết cho một ông hoàng hay cho một người lớn mà họ không quen biết. Họ viết cho tôi như các anh chị em hay như con cái, với ý thức về một mối dây gia đình rất yêu mến. Ở đây người ta có thể sờ mó được bằng tay Giáo Hội là gì - không phải là một tổ chức, một hiệp hội, có các mục đích tôn giáo hay nhân đạo, nhưng là một thân thể sống động, một sự hiệp thông giữa các anh chị em với nhau trong Thân Mình của Chúa Giêsu Kitô, là Đấng hiệp nhất tất cả chúng ta. Sống kinh nghiệm Giáo Hội trong kiểu này, và hầu như có thể sờ mó được bằng tay sức mạnh chân lý và tình yêu của nó, là lý do vui sướng, trong một thời đại, trong đó biết bao nhiêu người đang nói về sự suy tàn của Giáo Hội.”

Đề cập tới quyết định từ nhiệm của ngài Đức Thánh Cha Biển Đức XVI giải thích như sau: ”Trong các tháng cuối cùng này, tôi đã cảm thấy sức lực của tôi giảm sút, và trong lời cầu nguyện tôi đã nài nỉ Thiên Chúa, soi dẫn cho tôi với một ánh sáng của Người để làm cho tôi lấy một quyết định đúng đắn hơn, không phải cho thiện ích của tôi, nhưng cho thiện ích của Giáo Hội. Tôi đã đi bước này trong ý thức tràn đầy về sự nghiêm trọng và cũng mới mẻ của nó, nhưng với một sự thanh thản sâu xa trong tâm hồn. Yêu thương Giáo Hội cũng có nghĩa là can đảm có những lựa chọn khó khăn, đau khổ, nhưng luôn luôn có trước mắt thiện ích của Giáo Hội, chứ không phải của chính mình.

Ở đây xin cho phép tôi trở lại ngày 19 tháng 4 năm 2005 một lần nữa. Sự nghiêm trọng của quyết định cũng đã là ở nơi sự kiện từ lúc đó trở đi tôi đã được luôn luôn và vĩnh viễn dấn thân bởi Chúa. Luôn luôn - ai lãnh sứ vụ Phêrô thì không còn có sự tư riêng nào nữa. Người ấy luôn luôn và hoàn toàn thuộc về tất cả mọi người, thuộc về toàn thể Giáo Hội. Như thể nói rằng chiều kích riêng tư bị lấy mất khỏi cuộc sống người ấy. Tôi đã kinh nghiệm và tôi đang trải nghiệm điều đó giờ đây, rằng một người nhận lấy cuộc sống chính khi cho nó đi. Trước đây tôi đã nói rằng nhiều người yêu mến Chúa thì cũng yêu mến Người Kề Vị Thánh Phêrô và cũng trở thành trìu mến đối với ngài; rằng Giáo Hoàng thật sự có các anh chị em, con cái nam nữ trên toàn thế giới, và rằng ngài cảm thấy an toàn trong vòng tay sự hiệp thông của họ; bởi vì ngài không thuộc về chính mình nữa, nhưng thuộc về tất cả mọi người và tất cả mọi người thuộc về ngài.”

Đức Thánh Cha giải thích thêm ý nghĩa sự kiện ”luôn luôn” như sau: ”Sự ”luôn luôn” cũng là một sự ”vĩnh viễn” - không còn có việc trở lại sự riêng tư nữa. Quyết định của tôi từ bỏ việc tích cực thi hành sứ vụ không thu hồi điều này. Tôi không trở lại đời sống tư, một đời sống gồm các cuộc du hành, các cuộc gặp gỡ, tiếp kiến, diễn thuyết vv... Tôi không từ bỏ thập giá, nhưng tôi ở lại trong một cach thức mới mẻ gần Chúa bị đóng đanh. Tôi không mang quyền bính của nhiệm vụ cai quản Giáo Hội nữa, nhưng như để nói rằng trong việc phục vụ cầu nguyện tôi ở bên trong ranh giới của thánh Phêrô. Thánh Biển Đức, mà tôi mang tên như Giáo Hoàng, sẽ là gương sáng vĩ đại cho tôi trong điều này. Người đã chỉ cho chúng ta thấy con đường cho một đời sống, mà tích cực hay thụ động, hoàn toàn tùy thuộc vào công trình của Thiên Chúa.

Tôi xin cám ơn tất cả và từng người một, cả về sự tôn trọng và cảm thông mà với chúng anh chị em đã tiếp nhận quyết định quan trọng này. Tôi sẽ tiếp tục đồng hành với con đường của Giáo Hội bằng lời cầu nguyện và suy tư, với sự tận tụy đối với Chúa và Hiền Thê của Người, mà tôi đã tìm cách sống cho tới giờ này mỗi ngày, và tôi muốn sống nó luôn mãi. Tôi xin anh chị em nhớ tới tôi trước mặt Thiên Chúa, và nhất là cầu nguyện cho các Hồng Y, được mời gọi cho một nhiệm vụ lớn lao như vậy, và cho Người Kế Vị mới của Tông Đồ Phêrô: xin Chúa đồng hành cùng ngài với ánh sáng và sức mạnh của Thần Khí Người.

Chúng ta hãy khẩn nài sự bầu cử hiền mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, để Mẹ đồng hành với từng người trong chúng ta và toàn thể cộng đoàn giáo hội; Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ với lòng tin tưởng sâu xa. Các bạn thân mến! Thiên Chúa hướng dẫn giáo Hội, Người luôn đỡ nâng Giáo Hội, cả và nhất là trong những lúc khó khăn. Chúng ta đừng bao giờ mất đi quan niệm đức tin này, là quan niệm duy nhất đích thật của con đường của Giáo Hội và của thế giới. Ước chi trong con tim chúng ta, trong con tim của từng người trong chúng ta, luôn có sự chắc chắn tươi vui rằng Chúa ở gần chúng ta, Người không bỏ rơi chúng ta, Người ở gần chúng ta và bao bọc chúng ta với tình yêu của Người. Xin cám ơn anh chị em!” Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha đã bị cắt quãng nhiều lần bởi các tràng pháo tay của tín hữu.

Khi Đức Thánh Cha kết thúc bài huấn dụ, các Hồng Y và mọi người đã đứng lên vỗ tay rất lâu. Đức Thánh Cha cũng đứng lên đáp lễ. Tiếp đến Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng các thứ tiếng Phàp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, A rập, Ba Lan, Croat, Tchèques, Slovac, Rumani và tiếng Ý.

Chào các tín hữu Italia Đức Thánh Cha nói: ”Các bạn thân mến, tôi xin cám ơn sự tham dự đông đảo của các bạn trong buổi gặp gỡ này, cũng như lòng thương mến của các bạn và niềm vui của đức tin. Đó là các tâm tình mà tôi xin hết lòng đổi lại bằng cách bảo đảm với các bạn lời cầu nguyện của tôi cho các bạn hiện diện nơi đây, cũng như cho thân bằng quyến thuộc và những người thân thiết của các bạn.

Ngỏ lời với người trẻ Đức Thánh Cha xin Chúa đổ tràn đầy tình yêu của Người trong tim họ để họ sẵn sàng hăng hái theo Chúa. Đức Thánh Cha xin Chúa nâng đỡ các người đau yếu để họ chấp nhận gánh nặng của khổ đau với sự thanh thản. Và ngài xin Chúa hướng dẫn các cặp vợ chồng mới cưới biết làm cho gia đình họ lớn lên trong sự thánh thiện.

Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Lúc 11 giờ sáng thứ năm 28-2-2013 Đức Thánh Cha gặp các Hồng Y hiện diện tại Roma trong phòng Clemente để chào từ biệt các vị. Vào lúc 5 giờ chiều ngài lấy trực thăng đi Castel Gandolfo. Vào lúc 5 giờ rưỡi chiều ngài ra bao lơn dinh nghỉ mát Castel Gandolfo đễ chào tín hữu thành phố. Đây cũng là lần xuất hiện cuối cùng trong tư cách là Giáo Hoàng Roma. Vì từ lúc 8 giờ tối sau đó ngài không còn giữ chức Chủ Chăn Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ nữa. Tuy vẫn tiếp tục được gọi là Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, hay Đức Nguyên Giáo Hoàng Biển Đức XVI, hay Đức Nguyên Giáo Hoàng, nhưng Đức Ratzinger sẽ chỉ mặc áo chùng trắng, không có mảnh áo khoác ngắn trên vai, không có nhẫn Giáo Hoàng, vì nhẫn này sẽ bị phá hủy, và cũng không mang giầy mầu đỏ. Cũng từ lúc 8 giờ tối thứ năm 28-2-2013 đội cận vệ Thụy Sĩ tại Castel Gandolfo chấm dứt nhiệm vụ và giao quyền lại cho đội Hiến Binh Vaticăng. Đức Ratzinger sẽ cư ngũ tại Castel Gandolfo vài tháng trước khi về sống trong tu viện của các nữ tu dòng kín được tu sửa lại, tại nội thành Vaticăng trong thinh lặng và cầu nguyện. Cùng hiệp ý với tín hữu công giáo toàn thế giới chúng ta hãy cầu nguyện cho Đức Biển Đức XVI, cho Giáo Hội, và cho Hồng Y Đoàn sắp nhóm Mật Nghị. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng để các vị bầu vị Tân Giáo Hoàng theo ý Chúa muốn.

Linh Tiến Khải

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

ĐÔI LỜI TỪ BIỆT ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI



ĐÔI LỜI TỪ BIỆT ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI
1. Lạy Cha rất mến yêu.
Giờ phút chia ly buồn lắm và đau đớn lắm.
Cha thoái vị và ra đi, lúc đêm bắt đầu (20 giờ, ngày 28 tháng 02 năm 2013).
Từ giờ phút đó, các thánh lễ tại Việt Nam sẽ không còn đọc tên Cha nữa (Thư Chung của HĐGMVN, ngày 16.02.2013).

2. Riêng con, con luôn nhớ đến tên Cha và gọi tên Cha.
Con nhớ Cha, để cảm tạ Cha vì những ơn Cha đã làm cho con.
Cha dạy con hãy luôn gặp gỡ thân mật với Đức Kitô và hãy bước theo Đức Kitô.
Nhờ vậy, đời con chỉ phải là yêu thương, dâng hiến, trong tự do và cậy tin phó thác, theo gương Cha. Vì Cha bước theo Đức Kitô.
Chỉ có thế, đời con mới có ý nghĩa và có hướng đi đúng đường.

3. Cha ra đi, khi đã thoái vị Giáo Hoàng.
Nhưng Cha không thể từ nhiệm ơn gọi bước theo Chúa Kitô.
Tối thứ Năm đó, Đức Kitô đã một mình ra đi. Người một mình đi vào Vườn Cây Dầu.
Ở đó, Người sợ hãi xao xuyến. Người đã xin Đức Chúa Cha, nếu có thể, thì cho Người khỏi uống chén đắng đang kề.
Nhưng, sau cùng, Người đã xin vâng ý Chúa Cha. Người không từ chối trách nhiệm đớn đau, mà Chúa Cha muốn Người phải thi hành.
Người đi vào cuộc tử nạn một mình. Người vác thánh giá một mình. Người chịu đóng đinh trên thánh giá một mình giữa hai phạm nhân tử tội.
Người một mình chịu thương khó, để dâng mình đền tội cho nhân loại.
Cha đi, nếu Cha cũng sẽ được ơn gọi bước theo Đức Kitô như thế, thì thiết tưởng đó chính là một vinh quang, mà Năm Đức Tin cần tuyên xưng. Bởi vì theo đức tin, ơn cứu độ sẽ đến từ thánh giá Đức Kitô.

4. Từ nay, trong cảnh tĩnh mạc của cuộc đời hưu, Cha sẽ có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để cầu nguyện nhiều hơn.
Trong đời cầu nguyện thẳm sâu ấy, xin Cha thương nhớ đến chúng con, nhất là những đứa con đang hấp hối, quằn quại, rên xiết, trong gian nan thử thách muôn vàn.
Cha còn có chỗ, để ra đi. Còn chúng con, bao người đau khổ, chẳng có chỗ nào, để mà ra đi.

5. Khổ nhất đối với chúng con là sự ác đang tăng mạnh bao vây chúng con. Con nhớ đến lời thánh Gioan tông đồ đã cảnh báo: “Tất cả thế gian đều nằm dưới ách của Ác Thần (Ga 5,19) và “Có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4,1).
Nếu thời điểm này đang ứng nghiệm những lời cảnh báo đó của thánh Gioan tông đồ, thì chúng con là những kẻ tội lỗi yếu hèn sẽ rất bơ vơ. Xin Cha thương cầu nguyện cho chúng con.

6. Con xin gởi Cha gánh nặng của bao nỗi lòng. Nỗi lòng đau đớn nhất là thấy chính mình chúng con có thể đang là nguyên do gây cho Cha những buồn phiền, do sự chúng con sa sút về đạo đức. Có thể nhiều người chúng con đang là nỗi thất vọng cho Cha. Con xin Cha rộng lòng tha thứ.
Thưa Cha, con vẫn nhìn thấy nơi Cha khuôn mặt hiền lành và khiêm nhường của Đức Kitô. Do vậy, con tin Cha vẫn rất cần cho Hội Thánh nói chung, và cho chúng con nói riêng.
Xin từ biệt Cha.

Long Xuyên, ngày 25 tháng 02 năm 2013
+ GB. BÙI TUẦN

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

Loan báo Chúa Kitô cho mọi người mà không bao giờ nản lòng


Trưa Chúa Nhật hôm qua đã có hàng ngàn tín hữu và du khách hành hương tụ tập tại quảng trường thánh Phêrô để tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin chung với Đức Thánh Cha. Vì hôm qua cũng là ngày mùng một Tết Nguyên Đán Đức Thánh Cha đã chúc mừng năm mới các dân tộc Viễn Đông như sau:

Anh chị em thân mến, hôm nay nhiều dân tộc Viễn Đông mừng Năm Mới âm lịch. An bình, hòa hợp và cảm tạ Trời là các giá trị đại đồng được cử hành trong dịp vui này và chúng được tất cả mọi người mong ước để xây dựng gia đình, xã hội và quốc gia. Tôi cầu chúc cho các dân tộc ấy có thể đạt được các khát vọng có một cuộc sống hạnh phúc và thịnh vượng. Tôi xin gửi một lời chào đặc biệt tới các tín hữu công giáo của các quốc gia ấy để trong Năm Đức Tin này họ được hướng dẫn bởi sự khôn ngoan của Chúa Kitô.

Trước đó trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã giải thích ý nghĩa bài Phúc Âm thánh Luca trong phụng vụ Chúa Nhật thứ V thường niên năm C. Văn bản thánh Luca kể lại ơn gọi của các môn đệ đầu tiên, khác với hai Phúc Âm Nhất Lãm khác. Đức Thánh Cha nói:

Thật thế, đi trước lời kêu mời là giáo huấn Chúa Giêsu ban cho dân chúng và phép lạ đánh cá được hoàn thành bởi ý muốn của Chúa (Lc 5,1-6). Quả vậy trong khi dân chúng chen chúc nhau trên bờ hồ Ghênêdarét để lắng nghe Chúa Giêsu, thì Người đã thấy ông Simon mất tin tưởng vì cả đêm đã không bắt được con cá nào. Trước hết Người xin có thể lên thuyền của ông để giảng cho dân đứng cách xa bờ một chút, rồi sau khi giảng xong, người truyền cho ông ra khơi với các bạn ông và tha lưới đánh cá (c. 5). Ông Simon vâng lời và họ bắt được một số lượng cá không tin được. Như thế, thánh sử cho thấy các môn đệ đầu tiên tin và đi theo Chúa Giêsu, bằng cách tin tưởng nơi Người, cậy dựa trên Lời Người, được đi kèm bằng các dấu lạ. Chúng ta ghi nhận rằng trước khi có dấu chỉ này Simon gọi Đức Giêsu là "Thầy" (c. 5), trong khi sau đó ông gọi Người là "Chúa" (c. 7). Đó là sư phạm lời mời gọi của Thiên Chúa, là Đấng không nhìn vào các đặc tính của những người được tuyển chọn, cho bằng nhìn vào đức tin của họ, như đức tin của ông Simon kẻ đã nói: " Dựa trên lời Thầy con sẽ thả lưới" (c. 5).

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: hình ảnh đánh cá ám chỉ sứ mệnh của Giáo Hội. Thánh Agostino chú giải điểm này như sau: "Hai lần các môn đệ bắt đầu đánh cá theo lệnh của Chúa: một lần trước cuộc khỗ nạn và một lần sau khi phục sinh, Trong cả hai lần đánh cá toàn thể Giáo Hội được ám chỉ: Giáo Hội như là bây giờ và như sẽ là sau sự sống lại của các người chết. Bây giờ Giáo hội tiếp nhận một đám đông không thể đếm được, bao gồm ngươi tốt lành và người gian ác; sau sự phục sinh nó sẽ chỉ bao gồm những người tốt lành mà thôi" (discorso 248,1). Kinh nghiệm của thánh Phêrô chắc chắn là đặc biệt, cũng là kinh nghiệm diễn tả ơn gọi từng tông đồ của Phúc Âm, không bao giờ được chán nản trong việc loan báo Chúa Kitô cho tất cả mọi người, cho tới tận cùng bờ cõi thế giới. Tuy nhiên, văn bản hôm nay làm cho chúng ta suy nghĩ về ơn gọi linh mục và đời thánh hiến. Nó là công trình của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha giải thích thêm ơn gọi này như sau:

Con người không phải là tác giả ơn gọi riêng của mình, mà trả lời cho đề nghị của Thiên Chúa: và sự yếu đuối của con người không được khiến cho họ sợ hãi, nếu Thiên Chúa kêu gọi. Cần tin tưởng nơi sức mạnh của Người hành động trong chính sự nghèo nàn của chúng ta; cần phải luôn luôn tín thác hơn nơi quyền năng lòng xót thương của Người, biến đổi và canh tân chúng ta.

Rồi Đức Thánh Cha kết luận bài huấn dụ như sau: Anh chị em thân mến, Ước chi lời này của Thiên Chúa làm sống dậy nơi chúng ta và trong các cộng đoàn kitô của chúng ta sự can cảm, tin tưởng và lòng hăng say loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Tin Mừng. Ước chi các thất bại và các khó khăn không dẫn đưa chúng ta tới sự chán nản; chúng ta có bổn phận thả lưới, rồi Chúa làm chuyện còn lại. Chúng ta cũng hãy tin thác nơi lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương các Tông Đồ. Nghe lời Chúa gọi, tuy ý thức được sự bé nhỏ của mình Mẹ đã trả lời với lòng tín thác hoàn toàn: "Này con đây". Với sự trợ giúp hiền mẫu của Mẹ chúng ta hãy canh tân sự sẵn sàng của chúng ta theo Chúa Giêsu, là Thầy và là Chúa.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã cất Kinh Truyền Tin rồi ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Ngài nhắc cho mọi người biết rằng thứ hai hôm nay là lễ Đức Mẹ Lộ Đức và cũng là Ngày Quốc Tế các bệnh nhân. Lễ sẽ được cử hành tại Đền thánh Đức Bà Altoetting trong vùng Bavière nam Đức. Ngài nói: Tôi gần gũi tất cả các bệnh nhận với lời cầu nguyện và lòng thương mến, và tôi hiệp nhất trong tinh thần với tất cả những ai tu tập tại Đền thánh này là nơi rất thân yếu đối với tôi. Tại Lộ Đức Đức Mẹ đã hiện ra với chị Bernadette Sobirous, một cô gái nghèo, và chỉ cho cô một nguồn nước, nhờ đó nhiều người đã được khỏi bệnh. Mẹ Maria muốn gần gũi với những người nghèo nàn, bệnh tật và thiếu thốn của mọi thời đại, và cùng đồng hành với họ trên con đường tiến về với Chúa Kitô, là suối nguồn sự sống. Tôi xin tín thác anh chị em, các người thân yêu của anh chị em và tất cả mọi bệnh nhân cho lời bầu cử của Mẹ Maria, là sự cứu rỗi của những người bệnh tật và là mẹ mọi ủi an.

Linh Tiến Khải

Nguồn: radiovaticana

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

"Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay"


Chúng ta vừa bước sang Năm Mới, năm Quý Tỵ. Nhâm Thìn qua đi, Quý Tỵ đã đến. Rồng Nhâm Thìn đã bàn giao cho Rắn Quý Tỵ.

Từ xưa đến nay, người ta luôn xem rắn là con vật đáng sợ. Cũng vì chưa hiểu hết đặc điểm, tính năng của loài bò sát này mà con người đã tôn vinh, thần thánh hóa chúng, thờ cúng loài vật này.

Cho đến nay, chúng ta vẫn sử dụng nhiều thành ngữ liên quan đến con rắn như "khẩu Phật tâm xà", ý rằng lời nói có vẻ hiền lương mà tâm địa thì độc ác; người độc ác thì thường bị mắng là "gian manh xảo quyệt như loài rắn độc"...Đức Giêsu cũng đã từng mắng người ta là « rắn độc ».


Tuy vậy, trong truyện dân gian ở Đồng bằng sông Cửu Long rắn đã trở thành bạn với con người. Vì tại Xà Phiên (Long Mỹ - Hậu Giang), khi có nhiều loài thú dữ vào phá hoại nhà dân, giết hại nhiều người nên dân chúng bỏ đi gần hết. Bỗng xuất hiện một đôi mãng xà lớn, chúng không hại dân làng mà còn đuổi hết thú dữ rồi thay phiên nhau giữ bình yên cho làng. Nhờ vậy, người dân mới về dựng làng lập ấp ngày càng đông đúc, đời sống vui vẻ, ấm no...

Tuy được coi là con vật đáng sợ nhưng trong Đông y, cũng như Tây y đã các bộ phận của rắn làm thuốc bổ rất tốt. Do vậy mà con người đã lấy hình ảnh con rắn quấn quanh một cây gậy làm biểu tượng cho thần sức khỏe.

Ngày nay, rắn còn được coi là loại thực phẩm hảo hạng, bổ dưỡng nên nhiều người đổ xô đi săn bắt rắn, đến nỗi nguồn rắn tự nhiên ngày càng ít dần. Hầu như tất cả các bộ phận của rắn đều được sử dụng chế biến thành nhiều món ăn như da rắn chiên giòn, nem rắn, chả rắn, rắn xào, rắn hấp, súp rắn, cháo rắn, xôi rắn, rượu rắn pha tiết mật, rượu rắn pha tiết hết ý như rượu Tam Xà (hổ mang, hổ lửa hay rắn ráo, mai gầm hay cạp nong), ngũ xà (gồm 5 loại rắn trên cộng thêm rắn lục, rắn ri voi)... Đối với người công giáo chúng ta, thì con rắn đầu tiên mà loài người tiếp xúc là con rắn đã xúi "cô" Eva ăn trái táo. Không biết nó nói ngon nói ngọt ra làm sao mà Evà nghe liền, không những thế còn chuyển lời rắn cho cả Adong, thế là cả hai cùng ăn, ăn rồi đổ lỗi cho nhau khi Chúa hỏi, và cuối cùng là tại con rắn trở nên kẻ thù với con người khi Chúa phán: " Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người phụ nữ".

Dù Rồng hay rắn đi nữa thì cả tháng nay, mọi người đã sửa soạn ăn Tết, ngày Tết, ai cũng có cái cảm tưởng là có cái gì mới vì ai cũng dùng chữ năm mới. Năm mới mọi cái đều phải mới.

Từ mấy hôm nay, chúng ta đã đi chúc tết nhau, thường người dướt tết người trên : con cháu tết ông bà cha mẹ, em tết anh chị, công nhân viên tết thủ trưởng. Kèm theo món quà, tượng trưng cho tấm lòng thơm thảo, lại có những lời chúc thật tốt đẹp cho Năm Mới.

Ngày Tết, người ta chúc mừng nhau, chúc nhau.

. Phúc, lộc, thọ.
. Phú, qúi, thọ, khang, ninh.
. Đa tử, đa tôn, đa phú qúi.
. Thăng quan tiến chức
. Buôn may bán đắt, nhất bán vạn lợi, một vốn bốn lời.


Đối với các cha, anh chị em thường chúc cho ngài ba lời chúc này :

. Thánh thiện,
. Khôn ngoan,
. Khỏe mạnh.

Thi sĩ Trần tế Xương lại chúc :
Bắt chước ai ta chúc mấy lời :
Chúc ai sống ra cái con người.

Những lời chúng ta chúc nhau đều muốn hướng về một tiền đồ thật sáng lạn trong tương lai, đi kèm với một đời sống vật chất thật phong phú. Xem ra, tất cả đều hướng về những của cải chóng qua đời này và những thành quả chỉ dừng lại ở trần thế. Chúa mới chính là gia nghiệp, là cùng đích mà con người cần phải kiếm tìm và đó cũng chính là sự tồn tại của con người.

"Các con chớ áy náy về ngày mai". Chúa luôn muốn mọi người nghĩ đến cùng đích của cuộc sống mình. Tương lai mỗi người đều nằm trong tay quyền năng và sự quan phòng của Thiên Chúa. Với tình thương và lòng nhân hậu của Ngài, chúng ta luôn tin tưởng và phó thác, bởi Chúa là người Cha luôn muốn những điều tốt nhất cho con cái. Con cái lắng, bận rộn, tất bật làm việc để tích luỹ và để bảo đảm cho tương lai, tất cả đều tốt và cần thiết, nhưng "nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công". Hãy làm tốt những bổn phận và trách nhiệm của mình bao nhiêu có thể, phần còn lại hãy phó thác trong tay quan phòng của Thiên Chúa. Ngài sẽ hoàn tất những gì còn lại.

Người Kitô hữu có truyền thống rất quí giá là dâng ngày đầu năm cho Thiên Chúa, để Chúa đổi mới và chúc lành cho năm mới.

Từ cái giây phút linh thiêng khi trời đất giao hòa, năm cũ bàn giao cho năm mới. Chúng ta họp nhau đây để:" Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc..."(Tv 66, 2-3). Xin Ngài tuôn đổ muôn vàn ơn phúc cho xuống cho con cái. Năm mới, chúng ta muốn mọi sự cũ phải được qua đi, cái mới, cái đẹp phải tỏa sáng. Vậy thì trong thánh lễ tân niên nay, chúng ta háy đặt tin tưởng, cậy trông và phó thác vào Chúa. Bởi tất cả mọi sự đều do Chúa, đều bởi Ngài như lời thánh vịnh viết: "Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay". Xin cầu chúc một Năm Mới hạnh phúc cho mọi người! Amen.

Suy niệm ngày Mồng Một Tết 2013

Linh mục Antôn Nguyễn Văn Độ

Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013

Phút linh thiêng



Giao thừa là "phút linh thiêng", là khoảnh khắc chuyển giao lại năm cũ để đón nhận năm mới. Người ta có nhiều tục lệ đón giao thừa gọi là Lễ Giao Thừa hoặc Lễ Trừ Tịch, cúng tổ tiên, bói Kiều,...

Ngoài tục lệ đời, người Công giáo còn có thói quen tốt lành là tham dự Thánh lễ Giao thừa để tôn kính Thiên Chúa Ba Ngôi và kính nhớ Đức Mẹ.

Người ta cầu mong nhiều điều cho năm mới, thể hiện qua mâm ngũ quả. Mỗi vùng miền có thể dùng những loại trái khác nhau. Nhưng kiêng kỵ là các loại trái có tên gọi "na ná" với từ có nghĩa xấu như cam (cam chịu), chuối (chúi đầu, chúi mũi, tức là vất vả). Ngược lại, các loại trái ở Nam bộ được ưa thích như trái thơm (dứa, ý nói thơm tho, danh thơm tiếng tốt), trái sung (sung túc). Đủ một câu thể hiện sự mong ước khiêm tốn gồm mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài (cầu vừa đủ xài); hơn mức đầy đủ thì gồm mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung (cầu vừa đủ xài sung).

Với các Kitô hữu, Thiên Chúa mới chính là Chúa Xuân đích thực. Ngay từ đầu Thánh lễ, Giáo hội dùng lời Kinh thánh để cầu chúc mọi người trong giây phút giao thừa: "Cúi xin Đấng tạo thành trời đất xuống cho bạn muôn vàn phúc cả từ Núi Thánh Sion" (Tv 134:3).

Nghi thức nhằm phục vụ con người, cũng như luật là để phục vụ con người. Đức Chúa truyền cho ông Môsê phải nói với A-ha-ron và các con về "công thức" chúc lành cho con cái Ít-ra-en: "Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!" (Ds 6:24-26). Sao lại phải chúc như vậy? Chính Thiên Chúa giải thích: "Chúc như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng" (Ds 6:24-27).

Thật tuyệt vời vì chúng ta luôn được Thiên Chúa quan tâm, chăm sóc, nâng đỡ, bảo vệ, chúc lành,... Tác giả Thánh vịnh đã từng thắc mắc: "Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao? (Tv 121:1), nhưng tác giả lại xác định ngay: "Ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa, là Đấng dựng nên cả đất trời" (Tv 121:2).


Năm cũ vừa giã từ, năm mới vừa sang. Chúng ta hãy thành tâm cầu chúc nhau những điều tốt lành nhất: "Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành! Chính Chúa là Đấng canh giữ bạn, chính Chúa là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. Ngày sáu khắc, vầng ô không tác hoạ, đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi. Chúa giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời" (Tv 121:3-8).

Giao thừa nhắc nhở chúng ta xin lỗi Chúa và tha nhân về những lỗi lầm trong năm cũ, đồng thời cũng phải biết tạ ơn về bao ơn lành từ Thiên Chúa trao ban suốt năm qua và xin ơn cho năm mới. Thánh Phaolô mời gọi: "Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu" (1 Tx 5:16-18). Và rồi thánh nhân cũng nhắc nhở: "Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ; còn điều xấu dưới bất cứ hình thức nào thì lánh cho xa" (1 Tx 5:19-22).

Tiếp theo là lời chúc: "Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hoá toàn diện con người anh em, để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách, trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm. Đấng kêu gọi anh em là Đấng trung thành: Người sẽ thực hiện điều đó. Chúc anh em được đầy ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (1 Tx 5:23-24 & 28).

Trong cuộc sống, ai cũng khao khát được tận hưởng niềm hạnh phúc viên mãn. Có nhiều dạng hạnh phúc theo quan niệm của mỗi người, mỗi vùng, mỗi miền, mỗi dân tộc. Tuy nhiên, có một điều phúc thật mà đôi khi chúng ta hay quên hoặc chưa thực sự lưu tâm, đó chính là điều mà Chúa Giêsu đã mặc khải cho mọi người: "Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Lc 11:28).


Tin Mừng đêm Giao thừa là trình thuật Mt 5:1-10, nói về Bát Phúc (Tám Mối Phúc Thật) đã được Chúa Giêsu công bố lần đầu tiên trong Bài Giảng Trên Núi:

1. Phúc thay ai có tâm hồn NGHÈO KHÓ, vì Nước Trời là của họ.

2. Phúc thay ai HIỀN LÀNH, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

3. Phúc thay ai SẦU KHỔ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

4. Phúc thay ai KHÁT KHAO nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

5. Phúc thay ai XÓT THƯƠNG người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

6. Phúc thay ai có tâm hồn TRONG SẠCH, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

7. Phúc thay ai XÂY DỰNG HOÀ BÌNH, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

8. Phúc thay ai BỊ BÁCH HẠI vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.


Người không có niềm tin vào Thiên Chúa thì không thể nào "chịu nổi" vì cả 8 điều mà Chúa Giêsu cho là PHÚC đều "nghịch nhĩ". Sao mà "ngược đời" quá! Để có thể sống theo kiểu "ngược đời" của Chúa Giêsu thì phải cần đến ĐỨC TIN, mà năm nay lại là Năm Đức Tin. Và chính ĐỨC TIN chắc chắn sẽ cứu thoát chúng ta.

Năm nay là năm con Rắn, được trở thành Kitô hữu là một ơn gọi, là vào đời làm NHÂN CHỨNG cho Tin Mừng của Đức Kitô. Tất nhiên chúng ta có thể bị ghen ghét và bị hại – đa dạng, lắm kiểu. Thật vậy, Ngài biết trước nên Ngài căn dặn: "Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Hãy khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu" (Mt 10:16). Con Rắn là loài vừa khôn ngoan vừa xảo quyệt nhất trong các loài động vật. Chính nó đã lừa được Bà Eva bằng lời đường mật, và rồi Ông Adam lại "chết" vì mỹ nhân kế của một phụ nữ "yếu đuối" là chính vợ mình. Chúa Giêsu muốn chúng ta học cái khôn ngoan của con Rắn chứ đừng nham hiểm như nó!

Xuân về, Tết đến, ai cũng "khác" từ tinh thần đến thể lý, cả trong lẫn ngoài: "Đức Giêsu Kitô vẫn là MỘT, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời" (Dt 13:8).

Lạy Chúa, chúng con xin lỗi Chúa về mọi lỗi lầm năm cũ, xin ban Thánh Linh để chúng con biến đổi nên giống Ngài mỗi ngày mỗi hơn; chúng con xin chúc Tết Chúa, xin giúp chúng con hướng về Mùa Xuân Vĩnh Hằng trên Thiên quốc; chúng con xin Chúa lì xì nhiều Hồng Ân để chúng con sống trọn vẹn năm mới; và chúng con cũng xin lì xì cả cuộc đời của chúng con cho Chúa, xin thương thánh hóa và hướng dẫn chúng con đi đúng Đường Tốt Lành của Ngài. Xin Đức Mẹ Maria, Đức Thánh Giuse, chư Thần và chư Thánh nguyện giúp cầu thay cho chúng con luôn. Xin Chúa chúc lành và ban cho mọi người đều có được niềm vui Xuân trọn vẹn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người cứu độ chúng con, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

Hai con rắn trong Thánh Kinh



Nhâm Thìn qua, Quý Tỵ đang đến. Rồng Nhâm Thìn sắp bàn giao cho Rắn Quý Tỵ.


Nếu như tuổi rồng là cái gì đó bay bổng thanh cao thì con rồng lại không có thật. Còn con rắn nghe có vẻ nhỏ bé, thấp kém bò dưới đất nhưng lại có thật 100%.

Tỵ là năm thứ sáu trong chu kỳ tính âm lịch theo mười hai địa chi. Khi đặt tên cho 12 con giáp, người xưa đã xác định những đặc điểm sinh học của các loài vật, chú ý đến các thời điểm liên quan đến từng con vật cụ thể để ám chỉ ngày giờ cùng những chuyện liên quan khác. Với ý nghĩa như vậy, Tỵ thuộc về tháng 4 âm lịch. Căn cứ vào thực tế, người xưa cho rằng vào thời điểm này rắn bắt đầu lột xác, nó trở nên yếu ớt. Tháng 4 cũng là lúc vạn vật âm khí đã tàn, dương khí vươn mình. Do đó xét về dịch lý, Tỵ thuộc âm hỏa, đó cũng là ý nghĩa tượng hình của rắn trong dịch học phương Đông. Rắn là con vật tượng trưng cho dương khí, không chỉ mang trong mình ngọn lửa mạnh mẽ mà còn sinh ra khí dương. Trong ngày, Tỵ là lúc 10giờ sáng, Tỵ là hướng nam – đông nam, Tỵ là mùa hè trong năm. Người sinh năm Tỵ có ý hướng thượng, dám đảm nhận những công việc quá sức mình và thường hoàn thành mỹ mãn. Dường như người tuổi Tỵ thường có vẻ trầm tĩnh, có khi gây cảm giác lạnh lùng cho người mới tiếp xúc, cái lạnh lùng bề ngoài mang bản chất có lửa bên trong, nó sẽ được bộc lộ một cách phong phú dồi dào. Các nhà phong thủy dự đoán Quý Tỵ là năm của lạc quan, cải cách và thịnh vượng.

Trong truyền thuyết Hy lạp,Thần Chữa Bệnh có tên là Asklepios được biểu tượng bằng con rắn. Hai ngành y học và dược học đều liên quan tới sự sống con người. Cả hai đều nhận con rắn là biểu hiệu. Con rắn cuốn trên chiếc gậy là biểu hiệu của ngành y. Con rắn cuốn trên chiếc ly có chân, đầu hướng vào miệng ly, là biểu hiệu của ngành dược. Cả hai ngành nhận con rắn làm biểu hiệu vì người xưa, cả đông lẫn tây phương đều coi con rắn là tượng trưng cho sức mạnh. Người ta còn lầm tưởng con rắn là loài bất tử, do hiện tượng lột xác của nó. Cả đông lẫn tây đều truyền nhau câu truyện cổ tích, về sự bất tử của con rắn.

"Thuở trời đất vừa được dựng nên, Tạo Hoá muốn cho loài người đuợc bất tử, bằng cách lột xác, còn loài rắn thì tới già phải chết. Tạo Hoá liền sai sứ giả là vị Thiên lôi xuống trần nói ý định đó cho loài người. Tạo Hóa truyền Thiên lôi, khi gặp con người thì nói mệnh lệnh này:"Người già,người lột. Rắn già chạy tuột vô săng".

Thiên lôi xuống trần, vừa đi vừa lẩm nhẩm mệnh lệnh của Trời, nhưng vì Thiên lôi lơ đãng, đọc đi đọc lại thế nào, mà khi xuống trần vừa gặp con người thiên lôi lại đọc : "Rắn già rắn lột. Người già chạy tuột vô săng".

Vì thế mà con rắn được lột xác, còn con người sinh ra, lớn lên, già, chết, rồi phải đi vào săng, đem chôn". (x.Đỗ đình Tiệm, Lương thực hằng ngày, tr 722).

Theo các điển tích ngày xưa, rắn có thể tu luyện thành tinh và lột da sống đời. Những "mãng xà tinh" này đều có viên ngọc trong đầu gọi là ngọc rắn, nếu người nào có viên ngọc này sẽ có thể nghe được tiếng nói của loài vật. Ngày xưa, có một anh học trò nghèo tên Công Dã Tràng vì cứu được một gia đình rắn nên được rắn chúa trả ơn bằng cách nhả cho môt viên ngọc. Một hôm, Dã Tràng ngậm viên ngọc rắn trong miệng đi vào rừng, chợt nghe bầy kiến xôn xao bảo nhau phải dời tổ lên cành cây cao vì trong vòng ba ngày sẽ có mưa lụt lớn. Nghe được tin này, Dã Tràng bèn tức tốc báo cho quan huyện sở tại để ra thông tri cho dân chúng chuẩn bị tránh nạn hồng thủy. Quả nhiên ba ngày sau trời đổ mưa tầm tã là vỡ đê gây lụt lớn. Nhưng dân cư trong vùng không bị thiệt hại vì đã đề phòng trước. Quan huyện tâu với triều đình vì Dã Tràng có ngọc rắn nghe được tiếng loài vật nên đã biết truớc có nạn lụt. Nhà vua rất thích, cho với Dã Tràng vào cung, ban cho một chức quan nhỏ để có thể cùng Dã Tràng du ngoạn đó đây, cùng nghe tiếng loài vật. Môt hôm, vua ngự thuyền rồng cùng Dã Tràng ra biển nghe tiếng cá. Chợt nhà vua nghe thấy một cặp cá vừa thong dong bơi lội, vừa thân mật trò chuyện với nhau. Thích quá, vua há miệng ra cười khiến viên ngọc rắn rơi xuống biển. Dã Tràng tiếc ngọc, nhảy xuống biển mò nên bị chết đuối. Tuy đã chết nhưng Dã Tràng vẫn muốn tìm viên ngọc nên biến thành con dã tràng là một loài cua nhỏ, hàng ngày bò lên bãi biển lấy cát mong lấp biển nhưng vẫn không bao giờ tìm lại được viên ngọc. Vì vậy, người đời thường ví những ai làm những việc không thể thực hiện được là "uổng công dã tràng". Trong dân gian cũng có câu:

"Dã Tràng xe cát biển Ðông;

Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì".

Trong Thánh Kinh hình ảnh con rắn xuất hiện ngay từ những trang đầu (x. St 3) và được nhắc đến trên 40 lần.

Kinh Thánh trình bày về rắn cả hai ý nghĩa tốt xấu. Rắn được đồng hóa với chính Satan, thủ lãnh của ma quỉ cám dỗ nguyên tổ phạm tội (x. St 3, 1-15). Đôi khi rắn được dùng như là biểu tượng của sự khôn ngoan : " Hãy khôn ngoan như con rắn!" (Mt 10,16), hay rắn đồng cứu người.(x. Ds 21, 4-9).

Trong Cựu Ước có hai câu chuyện về rắn. Con rắn cám dỗ đưa tới sự chết tại địa đàng (St 3, 1-7) và con rắn đồng trong sa mạc cứu người nhìn lên nó (Ds 21, 6-9).

1. Rắn cám dỗ

Rắn là vật tinh ranh hơn mọi dã thú (3,1a). Rắn là loài có hình thù và cách di chuyển đặc biệt; nó khôn khéo và nguy hiểm làm người ta sợ và ghê tởm. Nhiều tôn giáo (cụ thể tại Canaan) coi rắn như thần và nó có vai trò trong việc ma thuật và biểu tượng sự sinh sản phong phú. Ở đây, rắn biểu tượng cho sự độc ác và khôn khéo, tìm cách phá hoại hạnh phúc con người bằng cách phá đổ mối thân thiện giữa con người với Thiên Chúa. Sách Khôn Ngoan ví rắn là quỷ dữ (Satan): "Chính vì quỷ dữ ganh tỵ, mà cái chết xâm nhập thế gian" (St 2,24); Khải Huyền gọi là Satan, ma quỷ (Kh 12,9); (1Ga 3,8).

Khi cám dỗ Evà, Rắn quỷ quyệt đưa ra một câu hỏi bâng quơ: "Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?" (3,1b). Quả là một câu hỏi khôn khéo và nguy hiểm vì có hai nghĩa:

- Không được ăn tất cả, chỉ một số nào đó thôi.

- Không được ăn cây nào cả.

Rõ ràng, lời này có ý xuyên tạc hoàn toàn ý Thiên Chúa, và như thế có tác dụng lôi kéo người nữ vào câu chuyện.

Người nữ phản kháng : Quả cây trong vườn chúng tôi được ăn. Nhưng về quả cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa đã phán : các ngươi không được ăn, không được rờ đến kẻo phải chết (3,2). Việc đầu tiên là người nữ thấy cần phải đính chính để bênh vực Chúa, và nói quá đi (không được đụng tới) như thể xác định một lệnh truyền nghiêm nhặt để giữ mình.

Con rắn ngọt ngào dụ dỗ : Chẳng chết chóc gì đâu ! quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như những Thiên Chúa biết cả tốt xấu. (3,4-5). Hết sức khôn khéo, rắn không xúi giục ăn trái cấm, nhưng tạo nên trong lòng con người sự nghi ngờ Lời Chúa. Nó quả quyết mình biết Chúa hơn người nữ và thuyết phục bà bớt tin tưởng để phán đoán rằng, biết đâu Thiên Chúa cấm vì sợ con người sẽ bằng mình. Các ngươi sẽ như Êlohim (giống Êlohim) là những kẻ biết thiện ác. Biết không nguyên bằng trí thức nhưng còn là kinh nghiệm; biết là làm chủ được sức mạnh thần bí. Rắn gợi cho con người nghĩ là họ có thể mở rộng cuộc sống vượt qua những giới hạn mà Chúa đã đặt, để họ có quyền định đoạt tốt xấu cho mình nghĩa là định mệnh cuộc đời mình, và như thế là đồng nghĩa với sự từ chối lệ thuộc Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, tức là kiêu ngạo muốn tách mình ra khỏi Thiên Chúa.

Người đàn bà đã nhìn : quả là cây ăn phải ngon. Mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy, để được tinh khôn (3,6). Rắn không nói gì thêm. Cần đi vào yên lặng để những lời cám dỗ trên được lắng sâu vào trí óc và cõi lòng. Nó tác động từ giác quan, đi vào trí khôn tạo lòng muốn. Người nữ ngắm nghía trái cây thấy ngon (giác quan - cảm giác), mát mắt (thẩm mỹ) và đáng thèm khát để được Khôn Ngoan, thông minh như Chúa, nên giống Chúa.

Và bà đã hái lấy quả mà ăn, và bà cũng trao cho chồng ở bên bà đưa cho chồng. (3,6). Người bị dụ dỗ trở hành kẻ dụ dỗ. Nàng chia cho chồng với ước mơ hão huyền là chồng được thông minh như Thiên Chúa.

Tại sao trong tình trạng sáng suốt và quân bình ban đầu, con người có thể bị sa ngã? Xét cho cùng, dầu sao họ cũng chỉ là thụ tạo bất toàn, với thân phận mỏng manh. Điều quan trọng đó là họ luôn có tự do để phán đoán và quyết định.

Và ông đã ăn (3,6). Lời Thánh Kinh thật vắn gọn diễn tả sự yếu đuối, nhu nhược của Ađam và ông đã sa ngã.

Mắt hai người mở ra (3,7). Đúng như lời rắn nói, bây giờ họ thấy một cái gì mới, nhưng cách khác hẳn họ tưởng: thay vì trở nên thần linh biết thiện ác, họ biết mình trần truồng. Tất nhiên, trước khi phạm tội, họ trần truồng nhưng coi đó là tự nhiên và không xấu hổ. Bây giờ sự vô tội đã mất, xấu hổ là dấu chỉ của ý thức tội lỗi họ có; tội đã gây nên trong thẳm sâu con người sự đổ vỡ: thế quân bình và hòa hợp giữa tinh thần và thể xác đã mất, con người không còn làm chủ được mình nữa, và vì thế cảm thấy xấu hổ trước mặt nhau.

Sau khi sa ngã, hai người lẫn trốn Thiên Chúa. Họ đi trốn chứng tỏ lương tâm hối hận vì đã không vâng lời. Tội phá vỡ sự hài hòa với chính mình. Để chạy tội, con người như đổ lỗi cho Chúa: người đàn bà mà Chúa đã đã đặt bên tôi, chính y thị đã hái nơi cây ấy cho tôi, nên tôi đã ăn ( 3,12). Người đàn ông đỗ lỗi cho Chúa : chung quy chỉ vì Chúa cho tôi người đàn bà ở với tôi. Người nữ đổ tội cho rắn : Con rắn dụ dỗ tôi nên tôi đã ăn (3,13). Cả hai câu nói trên tỏ lộ mối rạn nứt giữa người với nhau. Sự liên đới trong tội bị phủ nhận, người ta đổ trách nhiệm cho nhau. Sự đồng phạm không liên kết con người trước mặt Chúa, nhưng làm họ ra lẻ loi. Tội bắt đầu gây chia rẽ và phá vỡ mối tương quan hài hòa giữa người với nhau.

Tại sao Kinh Thánh chọn loài "rắn" làm hiện thân cho Satan? Còn "trái cấm" có ý nghĩa hiện sinh gì trong cuộc sống không?

a. Con rắn

Trước tiên, hình ảnh "rắn" rất quen thuộc trong Cựu Ước. Cái tên "Satan" (Quỉ Vương) có sẵn trong các tôn giáo cổ xưa, nhưng Do Thái là tôn giáo đầu tiên cho rắn đội lốt Satan đến cám dỗ con người ăn trái cây "biết lành biết dữ". Rắn cũng xuất hiện lần nữa khi Môisen và Aaron ném gậy xuống đất hòa thành rắn để Pharao cho dân Chúa đi tự do. Trong sa mạc, Môisen đúc rắn đồng treo lên cây cao, hễ ai bị rắn cắn nhìn vào đó sẽ được khỏi. Có thể hiểu "bị rắn cắn" theo nghĩa rộng như là một sự chùn chân, chán nản, không muốn tiếp tục cuộc hành trình qua sa mạc. Trong 40 năm lưu lạc trong sa mạc, dân Do Thái có lẽ đã tiếp xúc, đụng độ hoặc muốn đồng hóa với các bộ lạc thờ rắn sống trong vùng, và Môisen phải đúc rắn đồng riêng cho dân Do Thái để họ lên tinh thần mà tiếp tục cuộc hành trình về đất hứa. Ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm thấy được một số rắn đồng tại vùng mỏ đồng sa mạc Araba.

Ngoài Kinh Thánh ra cũng có nhiều chuyện thần thoại khác về rắn đã được lưu hành trước đó rất lâu. Chuyện thần thoại Gilgamesh ở xứ Sumeria, kể lại vua Utnaphistim và vợ ông ta đã tìm được một loài cây trường sinh, nhưng trước khi có dịp ăn quả trường sinh thì có một con rắn đã đánh cắp cây quý khỏi tay nhà vua, và từ đó không ai có thể sống đời đời nữa. Điển tích về rắn cướp lấy cơ hội trường sinh bất tử ảnh hưởng ít nhiều vào sự tích Satan hóa thân con rắn đến cám dỗ Evà, từ đó loài người mất đi cơ hội sống đời đời. Phải đợi đến thời Kitô giáo, "trái cấm" được thay thế bằng "Mình và Máu" của Chiên Thiên Chúa. Cũng như thế, Evà, người nữ đem trái cấm đến cho Ađam ăn, sẽ được thay thế bằng Đức Trinh Nữ Maria, người "chưa hề biết đến một người nam". Ngoài ra, cuộc chiến giữa rắn tiền sử và thần Marduk nói lên nhu cầu hy sinh đổ máu của "thần thánh" để loài người được sống. Khái niệm thần thánh trở thành của lễ hiến tế để đem lại sự sống cho nhân loại có lẽ không xa lạ cho lắm đối với hậu cảnh văn hóa và tôn giáo của Cựu Ước và Tân Ước. Tư tưởng "máu đào tử đạo là hạt giống đức tin" có lẽ cũng mang ảnh hưởng phần nào của khái niệm trên đây.

Với quan niệm của người Á Đông xem rồng như là vật linh thiêng, thì dân tộc Trung Đông cũng tôn thờ rắn vậy. Rắn đại diện cho sự khôn ngoan, nhanh nhẹn và cả sự nguy hiểm, trả thù độc địa nếu cần. Dân tộc xứ Syria xem rắn như một thần phù trợ. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại các đền thờ, các tạc hình "đầu rắn" vì họ tin thần rắn sẽ cắn chết những kẻ xâm lăng và bảo vệ dân chúng khỏi hiểm nguy bệnh tật. Khi thấy rắn lột da nhưng vẫn sống, người ta tin rắn có bí quyết trường sinh bất tử. Người Việt tin là rắn có trí nhớ và khả năng trả thù như trong chuyện Nguyễn Trãi giết cả một tổ rắn hổ mang và sau này bị rắn trở lại báo oán (tru di tam tộc).

Dân Cam Bốt tin rằng vương quốc Khmer do vua rắn sáng lập. Con đường dẫn đến ngôi đền chính tại Ankhor Wat của Cam Bốt được khảm bằng nhiều "naga" bảy đầu và cũng có nhiều hình rắn được tạc trên tường. Người Hy Lạp có rất nhiều thần thánh và huyền thoại liên quan tới rắn. Loại nữ trang cổ Hy Lạp thông dụng nhất mang hình rắn khoanh tròn. Thần Zeus được coi như vị thần tối cao, xuất hiện mỗi mùa xuân dưới dạng môt con rắn khoanh tròn cùng với nữ thần cai quản trái đất Rhea cũng mang hình rắn. Người Hy Lạp coi rắn là biểu tượng của đất và nước.

b. Trái cấm
Vì sự tinh ranh của rắn, Satan đội lốt rắn để đem "trái cấm" đến dụ dỗ con người. Nhưng "trái cấm" có ý nghĩa gì không? Cũng như các ngụ ngôn Đức Giêsu dùng để giảng dạy trong Tân Ước, ngôn ngữ huyền thoại của sách Sáng Thế không phải là loại ngôn ngữ cứng rắn của siêu hình học. Muốn hiểu ý nghĩa sâu sắc của nó chúng ta cần phải đặt mình vào trong bối cảnh và ngữ cảnh của câu chuyện.

Vì thế, ở đây chúng ta hãy giải thích "trái cấm" qua lăng kính hiện sinh. Nếu xét theo kinh nghiệm trưởng thành của mỗi người, chúng ta có thể diễn đạt ý nghĩa của "trái cấm" qua ba giai đoạn sau đây.

Trước tiên, "vườn địa đàng" đại diện cho tuổi còn bé thơ, sống trong vô tư và trần truồng, mọi miếng ăn thức uống đều lệ thuộc vào cha mẹ, chỉ biết chơi đùa với thú vật, mỗi buổi chiều tà cha mẹ dẫn đi chơi hay ngồi nghỉ dưới bóng mát của hàng cây.

Giai đoạn "Ađam và Evà bị cám dỗ" nói lên những khủng hoảng thường gặp phải trong tuổi dậy thì. Đây là cái tuổi thích mạo hiểm và tự do, hay chống đối lại bề trên nhưng không màng đến hậu quả xấu. Ở giai đoạn này, tính tình thì rất nông nổi và bồng bột, dễ bị quyến rũ và sa ngã về tính dục và tình cảm.

Cuối cùng, giai đoạn "sống ngoài vườn địa đàng" nói lên sự trưởng thành, đầy đủ nghị lực và trách nhiệm để tự lập. Đàn ông tự kiếm sống với mồ hôi nước mắt của chính mình, đàn bà mang nặng đẻ đau, nhưng cả hai sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả để tạo dựng mái ấm gia đình riêng cho họ. Vườn địa đàng có thiên thần "cầm gươm đứng gác cửa" ngăn chận không cho con người trốn chạy trách nhiệm hay trở về với tổ ấm của cha mẹ, nhưng phải đương đầu với thực tại đau khổ và biết giá trị của sự chọn lựa. Nói cách khác, "trái cấm" đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong đời người. Khi lớn lên không tránh khỏi những sai lầm hay sa ngã, nhưng chỉ qua đó, con người mới làm chủ vận mệnh và chịu trách nhiệm cho sự chọn lựa của mình. Đó có thể là lý do tại sao "trái cấm" được gọi là trái của "cây biết lành biết dữ". (x. Nội san chia sẻ, số 52).

Có lẽ vì hình ảnh tinh ranh quỷ quyệt của rắn trong Vườn Ðịa Ðàng nên hầu hết các sắc dân trên thế giới đều dùng rắn để ví von với những hình tượng mang ý nghĩa xấu.

Trong tiếng Pháp, "serpent" là con rắn, nhưng người Pháp cũng dùng chữ "serpent" để chỉ loại người hiểm độc. Thí dụ như "langue de serpent" là ăn nói độc địa; "serpent caché sous fleurs" tức "rắn ẩn dưới hoa" là sự nguy hiểm nằm dưới bề ngoài đẹp đẽ không ngờ; "réchauffer un serpent dans son sein" tức "ủ rắn trong ngực" là nuôi họa vào thân hay nuôi ong tay áo. Người Anh cũng có những câu nói không đẹp về rắn. Thí dụ như ""snake in the grass" đồng nghĩa với "serpent sous fleurs"; "speak with forked tongue" là miệng lưỡi ăn nói độc địa như lưỡi rắn; "lower than a snake's belly" để chỉ loại người đê tiện, hèn hạ, xảo trá, hèn hạ như không cón gì thấp hơn. Tục ngữ Việt Nam cũng có câu "cõng rắn cắn gà nhà" để chỉ phường Việt gian bán nước, can tâm làm đầy tớ cho ngoại bang, cúi đầu khom lưng cõng giặc về làm hại đồng bào.

2. Rắn đồng sa mạc

Dân Do thái thoát khỏi ách nô lệ Ai cập và đi vào đời tự do. Suốt bốn mươi năm ròng rã nơi hoang địa, họ gặp rất nhiều thử thách. Bấy giờ họ phàn nàn kêu trách Chúa và Môsê vì đã không cho họ bánh ăn và nước uống như hồi ở bên Ai cập. Họ đã quá chán ngán manna rồi. Và thế, Chúa đã trừng phạt họ bằng cách cho rắn độc bò ra cắn chết nhiều người. Tuy nhiên, khi họ biết ăn năn hối cải, Thiên Chúa đã ra lệnh cho Môsê đúc một con rắn đồng, treo nó lên một cây cột và hễ ai bị rắn độc cắn, chỉ cần nhìn lên rắn đồng sẽ được cứu sống. (x. Ds 21, 4-9). Con rắn đồng ở sẵn đó như một con tim yêu thương và tha thứ luôn mở rộng. Dù con người hết cứ lần này đến lần khác xúc phạm đến Chúa, nhưng chỉ cần họ sám hối và nhìn lên đó thì lại được tha.Thiên Chúa luôn cứu sống dân dù họ đã từng bất trung, oán trách, nổi loạn chống đối Người.

Chúa Giêsu kể chuyện con rắn đồng và so sánh: " Xưa Môsê treo con rắn đồng trong sa mạc thế nào, thì Con Người cũng sẽ bị treo lên như vậy, hầu cho mọi kẻ tin kính Ngài khỏi hư đi nhưng đuợc sống muôn đời" (Ga 3, 14-15). Nếu ngày xưa dân Do thái đã tin tưởng nhìn lên con rắn đồng để được chữa lành thì ngày nay, tất cả những ai tin tưởng nhìn lên Ðức Giêsu trên thập giá đều được ơn Cứu độ. Thập giá là tột cùng của đau đớn nhục nhã, nhưng cũng là minh chứng tuyệt vời của một tình yêu: Tình yêu của Cha đã trao ban Con Một, tình yêu của Con đã hiến dâng mạng sống. Tin vào một tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, nhân loại được đưa đến đời sống vĩnh cữu: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời"(Ga 3, 16).

3. Chúa Giêsu – suối nguồn bình an.

Trong sách Sáng Thế, con rắn là hình ảnh của sự quỷ quyệt và cám dỗ.

Đến sách Dân Số, con rắn trở nên biểu tượng cứu sống.

Hình ảnh con rắn đồng treo lên giữa sa mạc đã trở nên hình ảnh tiên báo Chúa Giêsu sẽ bị treo lên Thánh Giá. Nhờ đó, nhân loại được ơn cứu độ. Ngày xưa, nhờ nhìn lên con rắn đồng mà nhiều người đã ăn năn sám hối và được cứu thoát.Ngày nay,nhờ nhìn ngắm và tin vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh mà nhân loại "không phải hư mất, nhưng được sống đời đời".

Hai hình ảnh, con rắn bị treo lên và hình ảnh Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh cho thấy rõ tính liên hệ không gián đoạn giữa Cựu Ước và Tân Ước trong Nhiệm Cục Cứu Độ của Thiên Chúa. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước làm cho Cựu Ước được ứng nghiệm, được thành toàn. Cả hai đều nhắm đến một mục đích duy nhất của Thiên Chúa, đó là muốn cho loài người được cứu độ. Chân lý này mang lại cho chúng ta niềm tin, hy vọng, niềm vui và ơn bình an của Chúa Kitô.

Hoa quả của bình an là: yêu thương, tha thứ, bao dung, quảng đại, khiêm tốn, nhẫn nại, nhịn nhục.Hoa quả của bình an chính là tình yêu của Chúa Kitô thúc bách chúng ta làm việc thiện, thúc bách chúng ta vì anh em mà phục vụ như Chúa Kitô đã phục vụ, như các thánh Tông Đồ đã phục vụ Giáo Hội. Hoa qủa bình an thể hiện bằng tiếng cười, niềm vui, hạnh phúc trong gia đình, an hoà thư thái trong tâm hồn.Hoa quả bình an cũng chính là sự thật. Ta cảm thấy bình an khi mình sống ngay thẳng, sống theo sự thật. Tâm hồn tràn ngập bình an là tâm hồn đạo đức. Đó là người hạnh phúc. Tâm hồn bình an khi hòa giải với Chúa, tin yêu Chúa. Tâm hồn bình an khi hòa giải với chính mình. Tâm hồn bình an khi hòa giải với mọi người sống chung quanh. Tâm hồn bình an khi không chất chứa tham vọng, không chất chứa oán hờn ganh ghét bất hòa. Tâm hồn bình an khi tâm hồn không bị xáo trộn bởi đam mê bất chính. Tâm hồn bình an khi là con người tự do đích thực và tôn trọng người khác. Đó là bình an Chúa Kitô để lại cho chúng ta.

Bình an là một hồng ân Chúa ban và cũng là một trách nhiệm. Năm mới, mỗi người phải là "khí cụ bình an của Chúa", góp phần tạo nên bình an cho mọi người và cho toàn xã hội.

Tết đang gần kề. Cầu chúc quý độc giả, một năm mới Quý Tỵ vui trong sức khoẻ, trẻ trong tâm hồn, khôn trong lý tưởng, trưởng thành trong... tất cả mọi lĩnh vực... khang an thịnh vượng và phát đạt thăng tiến.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Kinh Năm Đức Tin







Kinh Năm Đức Tin
(đã được HĐGMVN chuẩn nhận)


Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,/
chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho chúng con ơn đức tin,/
nhờ đó chúng con được nhận biết và thực hành những điều Chúa dạy, /
hầu đem lại cho chúng con hạnh phúc đời này và đời sau.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa là đường, là sự thật và là sự sống./
Ai tin Chúa sẽ tìm thấy đường đi, tìm ra chân lý và tìm được sự sống./
Chúng con cảm tạ Chúa đã đến rao giảng Tin Mừng,/
dạy chúng con những điều phải tin, những việc phải làm, /
để được sống và sống dồi dào./
Xin nâng đỡ đức tin yếu kém của chúng con,/
để chúng con luôn biết tín thác vào tình thương của Chúa, /
sẵn sàng dấn thân loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo, theo lệnh Chúa truyền.

Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng hướng dẫn mọi loài,/
xin khơi lại cho chúng con những điều chúng con phải tin,/
những việc phải làm /
để đức tin của chúng con mỗi ngày thêm sâu sắc và trưởng thành hơn./
Xin ban cho chúng con biết can đảm tuyên xưng đức tin trước mặt mọi người,/
biết ý thức cử hành đức tin trong các nghi lễ phụng vụ,/
thực hành đức tin trong cuộc sống hằng ngày, /
để có thể thông truyền đức tin đó lại cho con cháu,/
và tất cả mọi người, đặc biệt là những người chưa nhận biết Chúa.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ được chúc phúc vì đã tin./
Xin giúp chúng con luôn tin những lời Chúa dạy và Hội Thánh truyền,/
biết phó thác mọi sự cho tình yêu quan phòng của Chúa,/
biết quan tâm đến nhu cầu của mọi người anh chị em chung quanh chúng con,/
nhờ đó họ sẽ được nhận biết Chúa,/
để chính họ cũng nhận được ơn đức tin đem lại sự sống đời đời.

Lạy Thánh Cả Giuse, các Thánh Tử đạo Việt Nam cùng toàn thể các Thánh,/
các ngài là những những gương mẫu sống động về đức tin cho chúng con./
Xin giúp chúng con biết sống /
và thực hành đức tin của chúng con trong cuộc sống hằng ngày,/
nhất là trong Năm Đức Tin này.

Chúc tụng Thiên Chúa vinh hiển muôn đời. /
Amen!

Tin Giáo Hội Việt Nam

GIA ĐÌNH PHẠT TẠ THÁNH TÂM TÂN VIỆT: Hướng dẫn mục vụ Năm Đức Tin

GIA ĐÌNH PHẠT TẠ THÁNH TÂM TÂN VIỆT: Hướng dẫn mục vụ Năm Đức Tin: Hướng dẫn mục vụ Năm Đức Tin Thừa lệnh Đức Thánh cha Bênêđictô XVI, Bộ Giáo lý Đức Tin, được sự đồng thuận của các Bộ thẩm quyền thuộc Tò...

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Mừng Kính Lễ Đức Mẹ mân Côi



LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI

Lễ Ðức Mẹ Mân Côi ngày hôm nay làm chúng ta liên tưởng đến biến cố đạo binh Công Giáo chiến thắng quân Thổ vào năm 1571 tại Lêpan. Tuy nhiên, Giáo Hội cũng muốn chúng ta tìm hiểu vai trò của Ðức Maria trong lịch sử cứu chuộc. Với tiếng “Xin, vâng!”, Ðức Mẹ đã chấp nhận và tận hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa, hầu cùng với Ngài thực hiện chương trình cứu rỗi. Phụng vụ hôm nay cũng nói đến các biến cố lớn trong đời Chúa: Nhập Thể, Khổ Nạn và Phục Sinh.

Chúng ta hãy nguyện xin nhờ lời cầu bàu của Mẹ Maria và với tước hiệu là Mẹ Thiên Chúa, cho mỗi phần tử trong Giáo Hội biết lướt thắng biển trần gian để một ngày kia cũng được khải hoàn vinh phúc như Mẹ.


LỜI CHÚA: Lc 1, 26-38

"Này Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một Con trai".


Khi ấy, Thiên Thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nadarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Ðavít, trinh nữ ấy tên là Maria. Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: "Kính chào Trinh Nữ đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ". Nghe lời đó, Trinh Nữ bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì. Thiên thần liền thưa: "Maria đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa với Chúa. Này Trinh Nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận. Nhưng Maria thưa với thiên thần: "Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?" Thiên thần thưa: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ. Vì thế, Ðấng trinh nữ sinh ra sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ trinh nữ cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được".

Maria liền thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền". Và thiên thần cáo biệt trinh nữ.

SUY NIỆM 1: Ðức Maria, Bông Hoa Hường Mầu Nhiệm

Nói đến Lễ Mai Khôi là nói đến hoa. Những bông hoa muôn màu muôn sắc dâng trước toà Mẹ. Những bông hoa kinh nguyện sốt sắng kết dệt nên những lời ca tụng Mẹ. Những bông hoa hi sinh, bác ái muốn toả hương dưới chân Mẹ. Những bông hoa nói lên lòng yêu mến của con cái đối với Mẹ hiền. Những bông hoa cũng cố gắng diễn tả phần nào nét đẹp của Mẹ. Thật vậy, giữa ngàn hoa, Ðức Ma-ri-a nổi bật như bông hoa cao quí xinh đẹp nhất. Ðẹp đến độ “đẹp lòng Thiên Chúa”. Trình thuật Truyền tin cho ta thoáng thấy vài nét đẹp của Người.

Người có nét đẹp đơn sơ.

Ðơn sơ trong khung cảnh làng quê Na-da-rét. Ðơn sơ trong nếp sống thôn nữ đạm bạc. Nhất là đơn sơn trong tâm hồn giản dị. Sự đơn sơ trong tâm hồn được bộc lộ qua những suy nghĩ trong sáng, những phát biểu thật thà, thẳng thắn trình bày với thiên sứ hoàn cảnh cụ thể của bản thân. Ðơn sơ trong vâng phục. Khi đã hiểu rõ ý định của Thiên Chúa chỉ đơn sơ thưa: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền”. Tâm hồn đơn sơ của Người chiếu toả như viên ngọc trong suốt không một tì ố.

Người có nét đẹp khiêm nhường.

Khiêm nhường trong nếp sống ẩn dật nơi làng quê nhỏ bé. Khiêm nhường trong nhận thức về bản thân. Thật vậy, khi nghe thiên thần chúc tụng Người “Ðầy Ơn Phúc”, Ðức Ma-ri-a thật sự ngạc nhiên. Bản thân Người không dám nhận danh hiệu cao đẹp ấy. Khiêm nhường trong tâm hồn biểu lộ trong lời nói. Khi đã chấp nhận chương trình của Thiên Chúa, Ðức Ma-ri-a vẫn khiêm tốn xưng mình là “Nữ tỳ của Thiên Chúa”. Thật khiêm nhường. Chính sự khiêm nhường càng tô thêm vẻ đẹp tuyệt vời nơi Người.

Người có nét đẹp từ bỏ.

Từ bỏ là vượt lên trên. Từ bỏ khiến con người trở nên cao đẹp, thanh thoát. Từ bỏ của cải đã khó. Từ bỏ bản thân khó hơn. Từ bỏ ý riêng mới thật cam go khốc liệt. Ðức Ma-ri-a đã có chương trình riêng: sống đời trinh nữ. Ðó là một chương trình đẹp. Nhưng khi biết chương trình của Thiên Chúa, Người đã sẵn sàng từ bỏ chương trình riêng. Nhờ từ bỏ chương trình riêng mà chương trình của Chúa được thực hiện. Nhờ từ bỏ bản thân mà Người đón nhận được chính Thiên Chúa.

Thiên Chúa rất lớn lao, chẳng trời đất nào dung chứa cho đủ. Bao lâu cái tôi còn cồng kềnh, bấy lâu tâm hồn chưa thể đón nhận được Thiên Chúa. Chỉ khi từ bỏ mình đến tận cùng, đến không còn một chút gì riêng tư dành cho bản thân, tâm hồn mới có thể đón nhận được Thiên Chúa. Khi trút bỏ chính mình, Ðức Ma-ri-a được đầy tràn Thiên Chúa. Không còn thuộc về mình, Người trọn vẹn thuộc về Thiên Chúa. Người là chiếc bình rỗng không nên Người đón nhận được “đầy ơn phúc” của Chúa.

Người diễn tả nét đẹp của Thiên Chúa.

Lời “Xin vâng” Ðức Ma-ri-a thốt lên nơi làng quê Na-da-ét vang vọng lời xin vâng của Ngôi Hai nhập thể làm người. Sự khiêm nhường của Người diễn tả sự khiêm nhường của Thiên Chúa xuống thế làm người. Sự từ bỏ của Người phần nào phản ánh sự từ bỏ của Ðức Giê su Kitô “vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân” (Pl 2, 6-7).

Ðức Ma-ri-a là bông hoa phần nào diễn tả được nét đẹp của Thiên Chúa vì Người là tác phẩm của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần “rợp bóng trên Mẹ” nên Mẹ sống dưới sự che chở của Thánh Thần, theo ơn hướng dẫn của Thánh Thần và sống trong tình yêu của Thánh Thần.

Lạy Nữ Vương Rất Thánh Mai Khôi xin cầu cho chúng con biết noi gương Mẹ.

(ĐTGM. Ngô Quang Kiệt)

SUY NIỆM 2: Kinh Kính Mừng
Ngoài vô số những ơn lành mà Mẹ đã cho riêng mỗi người, thì trong những lần hiện ra, món quà mà Mẹ đưa từ trời xuống, lần nào cũng chỉ là một cỗ tràng hạt mân côi. Đơn giản thế thôi, nhưng ta phải biết nghĩ chứ! Chắc chắn đây phải là một món quà vô cùng cao quý. Mẹ yêu ta vô cùng, cho quà ta, Mẹ phải chọn món quà gì quý giá nhất để cho. Đúng vậy! Ta hãy mở món quà ấy ra xem.

Lớp quà thứ nhất

Gồm 20 ngắm. 20 chặng trong hành trình cứu chuộc của Chúa Giêsu, Đấng đến trần gian để cứu nhân loại tội lỗi. 20 chặng ấy là giải nghĩa chữ Yêu một cách trọn vẹn và đầy đủ nhất. Mở đầu mỗi chục kinh là một biến cố thể hiện tình yêu; là một dấu ấn diễn nghĩa Tình Yêu mà Đấng Cứu Thế đã thực hiện vì con người và cho con người. Mở ra dấu ấn ấy để mời gọi ta bước vào hiện tại hoá dấu ấn ấy; để ta được hoà chung, được bơi lội trong đại dương ơn phúc mà Đấng Cứu Thế đã làm. Bỏ quên những ràng buộc của vật chất, linh hồn ta được linh thao, để hít thở nguồn ơn cứu độ.

Lớp quà thứ hai

Đàng sau sự kiện mà Chúa Giêsu đã làm, là bắt đầu bằng một kinh Lạy Cha, lời kinh cầu nguyện duy nhất mà Chúa Giêsu đã dạy. Lời kinh ấy là một nhắc nhở quan trọng về căn tính của mình. Mình từ Thiên Chúa mà ra và Ngài yêu thương ta vô cùng, hơn cả tình mẹ yêu con. Và Ngài chính là Cha dấu ái của ta và của mọi người. Cũng vì thế, tất cả đồng loại sống quanh mình đều là anh em ruột thịt của mình, không có ai là kẻ thù của mình cả.

Lớp quà thứ ba

Là mười kinh Kính Mừng. Lời “Kính mừng Maria” mà ta đọc đó chính là lời chào của Sứ Thần Gabriel đã chào Đức Maria trong buổi gặp gỡ truyền tin. Lời chào ấy được lặp đi lặp lại, để như một nhắc nhớ quan trong cho mỗi người: Thiên Chúa hết lòng muốn cứu chuộc nhân loại, và trước tiên, là chính người đang cất giọng đọc câu kinh ấy. Món quà quý báu ấy, Mẹ đem từ Trời xuống, quý vô vàn, được đưa tận tay cho mỗi người. Ô hay! Sao người lại rất hay từ chối?

Câu hỏi gợi ý:

1* Bạn có nhìn thấy tình thương lớn lao vô cùng của Chúa, khi bạn lần hạt không?

2* Bạn có nhìn thấy vẻ cao quý vô cùng của món quà mà Đức Mẹ đem đến cho bạn không?

(Suy niệm của Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm - Trích trong ‘Tập San Tĩnh Tâm Giáo Phận Long Xuyên – 10 & 11/2011’)

SUY NIỆM 3: Mẹ Ðầy Ơn Phước

Thời gian viên mãn đã đến, người trinh nữ, dấu chỉ của lời hứa được loan báo trước kia giỡ đây được chỉ định rõ ràng cho chúng ta biết và chúng ta biết rõ đó là Ðức Maria, Ðấng làm cho tâm hồn ta tràn đầy tin tưởng và niềm vui khi nghe đến tên Ngài. Cùng với thiên thần Gabriel, chúng ta cất lên lời chào: “Kính mừng Maria, hãy vui lên, Maria”. Qua lời chào của thiên thần, Thiên Chúa mời gọi Maria hãy vui lên vì thời giờ thực hiện lời hứa đã đến và làm sao Mẹ Maria không vui lên được, khi biết chính mình đã được chọn để thực hiện lời hứa, để làm dấu chỉ loan báo hoàng tử hòa bình sắp đến. Mỗi lần chúng ta chào chúa Mẹ Maria qua kinh Kính Mừng “Kính Mừng Maria đầy ơn phước” chúng ta tham dự vào niềm vui và niềm tri ân của Mẹ đối với Thiên Chúa.

Mẹ là Ðấng đầy ơn phước, Ðấng được Thiên Chúa chúc phúc. Mẹ thuộc hoàn toàn về người tôi tớ của Ðức Giavê như được loan báo nơi sách tiên tri Isaia chương 42 câu 1: “Ðây là tôi tớ Ta, Ðấng Ta chọn và đẹp lòng Ta mọi đàng. Mẹ được đầy ơn phước vì Ðấng sắp đến ngự nơi Mẹ là Con yêu dấu của Thiên Chúa”. Mẹ Maria được đầy tràn niềm vui. Mẹ là người đầu tiên được Thiên Chúa cho nếm trước niềm vui vì Thiên Chúa nhập thể. Nhờ Thiên Chúa mạc khải, Mẹ Maria hiểu được sứ mệnh của Mẹ như là dấu chỉ niềm hy vọng, dấu chỉ Thiên Chúa chu toàn lời hứa của Ngài cho Israel, và suốt đời Mẹ sẽ là bài ca chúc tụng lòng trung thành của Thiên Chúa, như Mẹ đã thốt lên nơi nhà ông Dacaria:

“Linh hồn tôi ngợi khen Chúa,

Ngài là Ðấng trung tín như lời đã hứa

Abraham và con cháu ông”.

“Thiên Chúa ở cùng Bà”, Mẹ Maria đã từng suy niệm lời tiên tri loan báo trước về biến cố cứu rỗi sắp đến, nên giờ đây từng lời thiên thần nói ra cho Mẹ đều mang một ý nghĩa sâu xa. “Thiên Chúa ở cùng Bà”, giây phút quan trọng nhất của lịch sử đã đến, đó là lúc trinh nữ Maria hay tin và hiểu rõ thực tại Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Emmanuel, một cách thật độc nhất vô nhị. Mẹ vui mừng gọi Thiên Chúa là Emmanuel, là Ðấng ở cùng chúng ta. Mẹ vui mừng trước sự hiện diện của Thiên Chúa và chúng ta hiệp với Mẹ trong niềm vui và hết lòng cảm tạ Thiên Chúa.

“Hỡi Maria, đừng sợ”, kinh nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa nơi chính mình, không khỏi làm cho con người run sợ. Không phải Mẹ Maria cảm nghiệm Thiên Chúa hiện diện, nhưng Mẹ còn được mạc khải cho biết giờ đây, đến lúc lời hứa thành sự thật nơi Mẹ. Không bao giờ Mẹ Maria đã nghĩ đến việc cả thể này, Thiên Chúa mạc khải chính Ngài và ý định của Ngài cho Mẹ. Mẹ vui mừng lên như một niềm vui mừng đi kèm với sự run sợ, một sự run sợ thánh. Kinh nghiệm sống đời Kitô, chúng ta cũng thấy hai tâm tình này như Mẹ Maria, vừa vui và vừa sợ. Mẹ Maria nhờ ơn Chúa giúp đã thắng vượt cái sợ và phó thác tin tưởng hoàn toàn vào Chúa.

Xin Mẹ Maria giúp chúng ta được tham dự vào niềm vui của Mẹ, được trở thành dấu chỉ để Thiên Chúa thực hiện ơn cứu rỗi của Ngài nơi anh chị em chung quanh. Ðặc biệt, trong ngày lễ của Mẹ hôm nay, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa Cha:

“Lạy Cha là Chúa tể trời đất,

Chúng con chúc tụng Cha

Vì Cha đã không mạc khải cho những kẻ khôn ngoan kiêu ngạo

Nhưng cho những kẻ bé nhỏ khiêm tốn

Cha đã chọn Mẹ Mari để thực hiện lời hứa cứu rỗi chúng con,

Nhờ lời cầu khẩn của Mẹ Maria

Ðặc biệt trong ngày lễ của Mẹ hôm nay

Và nhân danh Chúa Giêsu Kitô,

Ðấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng con”.

Xin cho chúng con nhận ra sự hiện diện của Người và vui mừng tiếp rước Người đến ở với chúng con. Và lạy Mẹ Maria, chúng con kính mừng Mẹ, Ðấng đầy ơn phước. Mẹ đã lãnh nhận mọi phúc lành của Thiên Chúa để giúp chúng con. Thiên Chúa ở cùng Mẹ; Ngài cũng đến ở với chúng con. Chúng con cũng sẽ cảm nghiệm được điều này như Mẹ, nếu chúng con biết sống trung thành với ơn gọi như Mẹ. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng con được luôn sống trong niềm vui vì được Chúa hiện diện bên cạnh, và đặc biệt trong chính chúng con.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

SUY NIỆM 4: Hành trình đức tin của Đức Maria

(Suy niệm của ĐTGM. Ngô Quang Kiệt)

Khi nhìn ngắm các tượng ảnh Đức Mẹ, ta dễ có cảm tưởng rằng Đức Mẹ đã sống một đời bình an thư thái. Vì các nghệ nhân thường tạo ra những hình ảnh về Đức Mẹ đẹp đẽ, hiền từ, dường như siêu thoát mọi cảnh khổ đau ở trần gian. Khi ngợi ca Đức Mẹ là tuyệt mỹ, đầy ơn phúc, vô nhiễm nguyên tội, ta thường nghĩ rằng: Đức Mẹ đã được tạo dựng đặc biệt, hoàn hảo ngay từ đầu, thánh thiện từ khi sinh ra và mãi mãi là như thế, không tiến, không lùi, đẹp như một pho tượng đúc sẵn.

Nhưng nếu đọc Phúc Âm kỹ lưỡng, ta sẽ thấy hành trình đức tin của Mẹ không phải luôn luôn bằng phẳng, êm xuôi, dễ dàng. Vì yêu thương, Thiên Chúa đã thanh luyện Mẹ, uốn nắn Mẹ. Và vì thế đã để Mẹ trải qua những kinh nghiệm đớn đau khi tin nhận và bước theo Chúa.

Cuộc thanh luyện thứ nhất:Thiên Chúa mời gọi Mẹ bỏ chương trình riêng để sống theo chương trình của Thiên Chúa. Maria, một thôn nữ bình dị sống thầm lặng trong một làng quê nhỏ bé. Cô muốn cuộc đời mãi mãi bình thản êm xuôi như thế. Nhưng Thiên Chúa đã đến khuấy động đời cô. Khi đề nghị Maria làm mẹ, Thiên Chúa đã mở ra trước mặt cô một lý tưởng cao đẹp, nhưng cũng đầy gian khổ chông gai. Maria đã ngoan ngoãn thưa “Xin vâng”. Lời thưa ‘xin vâng’ của Maria làm ta nhớ đến tổ phụ Abraham. Như Abraham đã từ bỏ quê hương, gia đình đi vào một tương lai bấp bênh theo tiếng Chúa mời gọi, Maria cũng đã từ bỏ chương trình riêng trong nếp sống bình dị, để đi vào chương trình của Thiên Chúa trong một tương lai bất ổn, hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa.

Cuộc thanh luyện thứ hai:Thiên Chúa gửi đến cho Đức Mẹ nhiều đau khổ. Vì nhận lời làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria phải gánh chịu nhiều đau khổ.

Đau khổ thứ nhất là bị Giuse nghi ngờ. Làm sao giải thích cho Giuse hiểu. Làm sao tránh được búa rìu dư luận. Không những bị nghi ngờ, mà còn nguy hiểm đến tính mạng nữa. Thời ấy, những cô gái chửa hoang sẽ bị ném đá cho đến chết. Nhưng vững tin vào Thiên Chúa, Đức Maria đã để mặc Thiên Chúa lo liệu dàn xếp mọi chuyện. Ngài chỉ biết cúi đầu, thinh lặng vâng phục và phó thác.

Đau khổ thứ hai là Đức Maria đã sinh hạ Chúa Giêsu trong cảnh cơ bần: không nhà cửa, không giường chiếu, không mùng mền. Thiếu thốn mọi phương tiện. Chung số phận với súc vật.

Đau khổ thứ ba là bị vua Hêrôđê tìm giết nên phải trốn sang Ai Cập. Con trẻ sơ sinh yếu ớt. Sản phụ chưa được nghỉ ngơi lại sức đã phải đi lên đường trốn chạy. Tuy nhiên, nỗi cực nhọc phần xác không sánh được với nỗi đau đớn trong tâm hồn: Tại sao lại mang lấy thân phận tội đồ? Tại sao lại bị người đời thù ghét, săn đuổi?

Đối diện với những đau đớn ấy, chắc chắn niềm tin của Đức Maria phải lung lay, nghi hoặc: Con Thiên Chúa mà phải chịu nghèo khổ, khốn cùng đến thế sao? Tuy có chao đảo, nhưng Đức Maria vẫn phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa.

Cuộc thanh luyện thứ ba:Đức Maria bị dứt lìa khỏi Chúa Giêsu. Niềm vui và hạnh phúc của người mẹ là đứa con, nhất là con một. Con là tất cả của mẹ. Con quý giá hơn chính mạng sống của mẹ. Tách con ra khỏi mẹ khác nào lấy gươm đâm vào tim mẹ. Thế mà Chúa Giêsu đã tách lìa Đức Maria rất sớm. Phúc Âm ghi lại hai lần Chúa Giêsu từ chối Đức Mẹ.

Lần thứ nhất: Khi Chúa Giêsu lên 12 tuổi, cả nhà đi lên Giêrusalem dự lễ. Tan lễ, Chúa Giêsu đã tự tiện ở lại, để thánh Giuse và Đức Maria đi tìm mất ba ngày. Trong ba ngày đó, Đức Maria đã trải qua biết bao lo âu, sợ hãi, đau đớn, cực nhọc. Vậy mà khi gặp cha mẹ, Chúa Giêsu đã nói: “Cha mẹ tìm con làm gì. Cha mẹ không biết con phải lo việc cho Cha con ư?”. Lời này khiến cho Đức Maria buồn phiền không ít vì thấy đứa con từ nay thoát khỏi vòng tay của Mẹ.

Lần thứ hai: Khi Chúa Giêsu đi rao giảng, Đức Maria và mấy người bà con đến tìm Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu không ra tiếp, lại còn nói những lời như chối từ liên hệ huyết thống: “Kẻ nghe lời Cha ta và thực hành, người ấy là anh chị em và là Mẹ ta”.

Những lời nói và thái độ của Chúa Giêsu như thế chắc chắn khiến cho Đức Maria buồn phiền. Nhưng những lời nói và thái độ ấy cũng giúp thanh luyện Đức Maria khỏi những tình cảm riêng tư, những liên hệ sinh học tự nhiên để bước vào tình yêu rộng lớn của Thiên Chúa và tạo lập những dây liên hệ siêu nhiên với Ngài.

Cuộc thanh luyện cuối cùng:Đức Maria phải chứng kiến cái chết nhục nhã của Chúa Giêsu trên thập giá. Còn gì buồn hơn khi mẹ mất con. Còn gì đau đớn hơn khi mẹ thấy con chết đau đớn, tủi nhục giữa tuổi thanh xuân. Ở đây ta cũng nhớ lại tổ phụ Abraham. Để thử thách ông, Thiên Chúa đã truyền cho ông sát tế Isaác, đứa con trai duy nhất. Đức Maria cũng được mời gọi hy sinh người con duy nhất của mình. Đau đớn hơn tổ phụ Abraham vì Đức Maria phải chứng kiến hy lễ đó hoàn tất. Khi mọi người trốn chạy, chối bỏ Chúa Giêsu, Đức Maria vẫn ở lại dưới chân cây thập giá đau nỗi đau của Chúa Giêsu, nhục nỗi nhục của Chúa Giêsu. Và khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng thì Đức Maria như bị mất tất cả, bị tước đoạt tất cả những gì yêu quý nhất. Đứng dưới chân thánh giá, Đức Maria trở nên một người nghèo nhất. Mẹ chẳng còn gì cho riêng mình. Chẳng còn điểm tựa nào để bám víu, Mẹ chỉ còn biết phó thác trông cậy vào Thiên Chúa.

Như vậy Thiên Chúa đã dẫn đưa Đức Maria từ bỏ chương trình riêng tư, từ bỏ chính mình, từ bỏ những gì thân thiết nhất của mình, để đi vào chương trình của Thiên Chúa, để trọn vẹn phó thác cho Thiên Chúa.

Ngày nay khi lần chuỗi Mân Côi là ta ôn lại hành trình đức tin của Mẹ. Hành trình đầy thử thách gian khổ nhưng cũng đầy chiến thắng vinh quang.

Xưa kia lễ Mân Côi được mừng để kỷ niệm cuộc thắng trận ở Lepante. Ngày nay, khi mừng lễ Mân Côi ta mừng Đức Mẹ Maria đã chiến thắng chính bản thân, đã vượt qua hết những thử thách và đạt tới đích điểm của hành trình đức tin.

Lạy Mẹ Maria, xin cho con biết noi gương Mẹ, biết từ bỏ ý riêng mình để thực hiện ý Thiên Chúa. Xin giúp con can đảm vượt qua mọi thử thách và giữ vững niềm tin tưởng phó thác trong tay Chúa.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Hãy kể ra những cuộc thanh luyện của Đức Mẹ.

2) Tại sao con người phải chịu thanh luyện? Có phải vì Chúa muốn hành hạ con người không?

3) Thanh luyện hệ tại điều gì? Chịu khổ sở hay từ bỏ mình, điều nào quan trọng hơn?

SUY NIỆM 5:Chiếc thang kỳ diệu

Tháng mười, tháng dấu ái thân thương, tháng ngọt ngào và vui sướng của nhiều tâm hồn. Lý do đơn giản. Tháng mười, tháng Đức Mẹ Mân Côi, tháng tăng thêm cho ta vô vàn sinh lực thần thiêng, tháng của tình mẫu tử mở ngỏ, trao ban. Mẹ đã trao ban tràng chuỗi mân côi mầu nhiệm, để như vũ khí trao tay cho người chiến sĩ cát bụi đầy yếu đuối, có thể chiến đấu và đạt chiến thắng, trước những ngã tấn công bắt hồn của vương quyền bóng tối, như nấc thang nhẹ nhàng, dịu dàng và thênh thang dìu ta trở về cội nguồn ơn cứu độ, là cuộc thương khó thấm đẫm tình yêu hy sinh cứu chuộc của Chúa Giêsu. Vào đó, để ta hiện đại hóa ơn sủng cứu độ của Ngài, cho chính đời ta. Vào tháng mười, tháng hồng phúc vô bờ là ta bơi trong đại dương tình yêu của trái tim Mẹ thiên quốc.

Và vì thế, nhắc đến tháng mười, những Kitô hữu trên thế giới không thể nào quên ngày 13 ấn tượng, với phép lạ vĩ đại lạ lùng và rực sáng giữa không trung trên bầu trời Fatima hôm nào, với cả hàng triệu đôi mắt mở to chứng kiến, trong sự ngỡ ngàng đến tột cùng. Trong những lần hiện ra ở Fatima, Mẹ không ngừng nhắc nhở mọi người phải siêng năng lần hạt. Chuỗi mân côi, như một báu vật, được gởi đến từ chốn thiên đàng cao sang, như một di sản phi vật thể vô giá, mà người Mẹ, để lại cho những đứa con của mình. Mẹ thương con vô cùng, nên Mẹ đã trao chuỗi hạt mân côi cho con. Rất trân trọng con hãy cầm lấy. Vì:

1/ Chuỗi mân côi là thanh bảo kiếm để che chở đời ta:Quanh ta, trên mỗi bước chân, ma quỷ luôn giăng đầy cạm bẫy. Hãy cầm lấy thanh bảo kiếm, ơn Mẹ sẽ che chở cho ta. Lời kinh đơn sơ ta đọc, Mẹ sẽ giúp ta sáng suốt để thoát khỏi những cạm bẫy ấy. Lời kinh miệng ta đọc, tình yêu Chúa trìu mến trong tim sẽ giúp ta nhận được ân sủng từ trời cao, giúp ta khỏi phải hụt chân vấp ngã trên con đường xây tương lai.

2/ Chuỗi mân côi, là chiếc thang diệu kỳ:Giữa trần đời ô trọc, cộng với kẻ nội thù là xác thịt, luôn muốn lôi kéo ta đi xuống, bỏ quên mất hạnh phúc vĩnh hằng, tràng chuỗi mân côi, sẽ tăng sức cho ta. Mẹ đã hứa như thế nếu ta siêng năng thực hành. Mỗi lời kinh ta vang lên là mỗi bước sẽ giúp ta bước lên cao hơn, thoát khỏi hố sâu đầm lầy, đưa ta tới gần Chúa hơn, gần chân lý hơn. Chuỗi mân côi ta đọc, sẽ giúp ta mở mắt để nhận ra được: mình là một kẻ được yêu thương, qua cuộc đời bi thương của Chúa. Và như thế, sẽ đưa ta vào sâu hơn trong biển tình thương của Thiên Chúa.

Gợi ý suy niệm:

1- Khi thấy bạn bị vấp ngã, sầu buồn, lo lắng. Bạn có biết tìm giải pháp bằng việc lần hạt không?

2- Đã có lần nào, bạn kêu cầu Đức Mẹ, qua việc lần hạt mà bị từ chối chưa?

(Trích trong ‘Tập San Tĩnh Tâm Giáo Phận Long Xuyên – 10/2010’)

SUY NIỆM 6: Chờ Ðợi
Theo tâm lý thông thường, ai cũng sợ phải chờ đợi, ai cũng sợ phải xếp hàng cả ngày. Ít hay nhiều, sự chờ đợi nào cũng là một cực hình. Nhưng mâu thuẫn thay, chúng ta lại thường biến cuộc đời thành một thứ đợi chờ, thành những phòng đợi triền miên...

Cả tuần lễ, ai cũng mong được đến ngày thứ Bảy, Chúa Nhật để được nghỉ ngơi. Chúa Nhật này đến, chúng ta lại chờ đợi Chúa Nhật khác đến. Tháng này đến, chúng ta lại chờ tháng sau. Năm này đến, chúng ta lại chờ năm sau...

Lên xe, chúng ta mong đến đích điểm. Khi đến nơi, chúng ta lại thấp thỏm mong ra về. Vào rạp chiếu bóng, nhiều người thường vội vàng đứng dậy trước khi cuốn phim chấm dứt: họ làm như thể vào rạp chiếu bóng là chỉ để mau đến giây phút ra về. Ði dự thánh lễ, dù lễ chưa xong, đã có kẻ muốn vội vàng đứng lên ra về: họ làm như thể chỉ đến nhà thờ để mong cho đến giây phút tan lễ. Vừa ra khỏi nhà, đã chờ mong để quay trở lại, nhưng khi vào nhà thì lại đợi đến lúc đi ra.

Với sự nóng lòng chờ đợi giây phút sẽ tới này, chúng ta sống như thể cuộc đời không có sự liên hệ với những giây phút hiện tại. Chúng ta biến cuộc đời thành một thứ phòng đợi, đợi hết cái này đến điều kia, đợi cả những điều sẽ không bao giờ xảy đến.

Tháng Mười là tháng dành riêng để tôn kính Mẹ Maria với tràng chuỗi Mân Côi và cùng với Mẹ, sống mầu nhiệm cứu rỗi trong từng phút giây của cuộc sống.

Ơn cứu rỗi không là một biến cố của quá khứ hoặc là một biến cố sẽ đến mà là một sự kiện đang diễn ra trong từng phút giây của cuộc sống. Mẹ Maria quả thực là mẫu gương cho chúng ta trong thái độ tiếp nhận ơn cứu rỗi. Thời gian đối với Mẹ không là những tháng ngày chờ đợi, mà là những tích tắc của từng khoảnh khắc đang đến với Mẹ. Với hai tiếng “Thưa, xin vâng!”, Mẹ đón nhận giây phút hiện tại như một món quà cao quý nhất Thiên Chúa trao ban.

Cùng với Mẹ sống lại mầu nhiệm của ơn cứu rỗi, chúng ta hãy đón nhận Ðấng đang đến, Ðấng hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Chúng ta hãy đón Ngài trong phút giây hiện tại này đây với tất cả tin tưởng phó thác.Chúa trao ban với chúng ta nhiệm vụ để thi hành trong phút giây này đây. Chúng ta hãy hoàn tất với tất cả cố gắng của chúng ta. Chúa trao ban cho chúng ta niềm vui của phút giây này đây, hãy tận hưởng như thể sẽ không còn một niềm vui nào khác.

(Trích trong ‘Lẽ Sống’ – R. Veritas)

SUY NIỆM 7: Lễ Mân Côi

Thế giới ngày nay là thế giới của tiện ích. Vì thế, người ta thường kết hợp nhiều lợi ích vào trong một cái. Dầu gội đầu cũng 2 trong 1. Điện thoại di động, vừa để nghe gọi, vừa để chụp hình, vừa là vi tính, năm sáu thứ trong một. Trong ngày lễ hôm nay, xin được giới thiệu một thứ; rất nhỏ bé, rất gọn, rất đơn sơ nhưng lại ẩn chứa bốn, năm lợi ích trong một: mà những lợi ích ấy toàn là những lợi ích to lớn. Đó là cỗ tràng hạt Mân Côi. Đây là món quà được đưa xuống từ Trời. Chỉ vì tình thương da diết với con cái mà người Mẹ với tước hiệu Nữ Vương Thiên Đàng, đã muốn gởi tặng từng người con.

1- Đó là mốt món quà thật nhỏ, thật xinh. Nhỏ, để người nào cũng có thể cất giữ trong người trong mọi giây phút. Nhỏ, bởi đó là một lời kinh rất dễ đọc, bất cứ ai cũng có thể thuộc. Vì lời kinh ấy chính là lời chào ngắn gọn của sứ thần Gabrien, khi truyền tin cho Trinh Nữ Maria.

2- Tuy nhỏ, nhưng việc lần hạt ấy, lại có thể làm được một điều diệu kỳ. Mỗi chục kinh, lại có ghi lại một chặng đường cứu độ của Chúa Giêsu. Và vì vậy, khi vừa đọc chục kinh, vừa suy gẫm chặng đường cứu độ của Chúa Giêsu, là ta mở được chiếc van, để ơn thánh của Chúa chảy tràn xuống trên linh hồn ta; và ta được đưa vào để hòa nhập với cuộc đời bình thường nhưng thánh thiện, cũng như cuộc thương khó và sự sống lại vinh quang của Ngài. Ta dần dần trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu.

3- Khi ta cầm trí lần hạt, Mẹ Maria sẽ hiện diện bên ta; để giúp ta xua tan đi những lo lắng, buồn khổ trong đời, giúp hồi sinh một con tm đang tan tác, chán chường. Mẹ ở bên ta, để phá tan sự tuyệt vọng lụn bại đang đè chết hồn ta. Và làm bừng lên một niềm hy vọng mới. Đưa ta ra khỏi cơn giông tố chán chường, tăm tối và cho ta nhìn được ánh sáng của niềm vui giữa cuộc đời.

4- Với lời kinh Mân Côi ta đọc, Mẹ sẽ đến bên ta, để tăng cho ta sức mạnh, hầu có thể chiến đấu với ma quỷ, là kẻ thù ẩn mặt, nhưng lại suốt ngày kè kè bên ta. Trước những hiểm độc của cám dỗ, ta thường dễ sập bẫy, thua trận. Vì thế, nếu không có Mẹ phù trợ, nâng đỡ, ta khó có hy vọng chiến thắng, vượt qua.

4- Với kinh Mân Côi, ta đọc mỗi ngày thì một niềm vui mới tràn dâng trong ta. Vì ta biết chắc một điều: Mẹ sẽ cứu ta trong giờ lâm tử. Đó cũng là điều hợp lý thôi. Vì khi siêng năng lần hạt, ta sẽ được giữ gìn, để luôn sống với tư cách của một người con ngoan của Chúa. Và phần thưởng cuối cùng cho một đứa con ngoan là điều Chúa Giêsu đã hứa từ trước.

Gợi ý suy niệm

1- Mỗi tuần, bạn lần hạt được mấy lần?

2- Bạn đã lần nào cảm nghiệm được hồng ân mà Đức Mẹ ban cho bạn qua việc lần hạt chưa?

Đức Mẹ Fatima


Cuộc Hiện Ra Ở Fatima

Francisco



1 Thiên Thần Dọn Đường

Năm 1915, Lúcia dos Santos một cô bé mập mạp tám tuổi, thuộc xóm Aljustrel, giáo xứ Fátima, đang chăn cừu ở sườn Núi Cabeco. Cùng với Lúcia có ba người bạn trẻ từ Casa Velha: Maria Rosa Matias và em là Teresa, và Maria Justino. Ăn trưa xong và trung thành với truyền thống mến Đức Mẹ của vùng Fátima, bốn cô bé bắt đầu đọc terco (cầu nguyện kinh Mân Côi).

Chính lúc đó, các bé thấy một đám mây lạ, trắng hơn tuyết, bay là là trên ngọn cây trong thung lũng phía dưới chân các bé. Đám mây kỳ lạ này trong suốt và có hình dáng một người. Cả Lúcia và ba cô bạn đều không thể nhận rõ được đó là gì.

Khi mẹ của Lúcia, bà Maria Rosa, nghe biết sự việc, bà lập tức bác bỏ: “lời nói xàm của con nhỏ khùng!” các cô con gái khác của bà cũng chia sẻ sự khước tín này và chế diễu bé em của họ.

Ít lâu sau, Lúcia chứng kiến cũng hiện tượng này lần thứ nhì, tại cũng một nơi và cùng một cách. Đến gần cuối năm 1915, cũng chính bóng mây lạ đó lại xuất hiện lần thứ ba.

Lúcia được chìa khóa mở bí mật đám mây lạ này năm 1916, khi thiên thần, chính thiên thần hiện ra rõ ràng với cô ba lần.

Lần thứ nhất, thiên thần hiện ra vào mùa xuân, khi Lúcia và hai bé em bà con, Jacinta và Francisco Marto, đang chăn cừu của gia đình tại Chousa Velha, cánh đồng thuộc tài sản gia đình Lúcia, ở phía đông Núi Cabeco.

Khoảng nửa buổi sáng, lớp mưa sương rất nhẹ bắt đầu rơi. Các bé chạy ngược lên sườn Núi Cabeco để tìm chỗ trú giữa các tảng đá, tới một hốc đá không có mái che, sâu vào khoảng một thước, khuất sau vườn cây ô liu thuộc sở hữu của ông Anastacio, cha đỡ đầu của Lúcia. Mặc dầu chưa bao giờ vào hốc đá này, bây giờ các bé bước hẳn vào trong. Những vách đá lởm chởm, có chỗ cao tới hai mètres, che đỡ đám sương mưa đang thổi tới. Các bé rất thích chỗ này, nên khi mưa tạnh trời lại sáng vào khoảng trưa, các bé vẫn chơi đùa ở chỗ này. Và chính tại đây thiên thần hiện ra với các bé.

Ăn trưa và cầu nguyện kinh Mân Côi xong, các bé chơi bỏ hột ở cửa hốc đá. Và lúc này thiên thần hiện ra. Vừa chơi được vài phút, các bé nghe tiếng ào ào của cơn gió mạnh. Những cây ô liu ở phía dưới vật vờ kêu rắc rắc. Vì trời lúc đó êm, các bé ngở ngàng nhìn lên trời. Ngạc nhiên ban đầu nhường chỗ cho kinh ngạc và sợ hãi.

Trên không trung, cách chỗ các bé một khoảng, làn ánh sáng hết sức kỳ lạ xuất hiện. Làn ánh sáng, trắng hơn tuyết, hướng về phía các bé. Lặng lẽ, bầu ánh sáng lướt qua thung lũng, trên các ngọn cây phía dưới chỗ các bé đang đứng và chạy dài về hướng đông. Ở giữa làn ánh sáng kỳ lạ, các bé nhận ra hình dáng một thanh niên. Thanh niên này cũng vậy, trắng hơn tuyết và trong suốt, phát ra hào quang sáng chói, giống như pho tượng bằng pha lê lóng lánh do ánh sáng mặt trời xuyên qua. Lucia nhận ra thanh niên này chính người khách kỳ bí cô bé đã thấy ba lần trước. Khi hình dáng trong suốt đó càng lúc càng tới gần, các bé nhận rõ vóc dáng và tuổi tác của thanh niên. Thanh niên này tuổi trạc mười bốn hoặc mười lăm, và chưa bao giờ các bé thấy người nào có vẻ khôi ngô tuấn tú như cậu ta.

Mặc dầu mừng rỡ vì vẻ rực rỡ sáng chói của người khách có hào quang, các bé vẫn sợ hãi và không dám nói. Chính thanh niên đã phá tan sự im lặng khi cậu dừng lại rất gần các bé ở chỗ ra vào hốc đá. Những lời đầu tiên cậu ta nói với các bé:

“Các bé đừng sợ. Tôi là Thiên Thần Hòa Bình. Các bé hãy cầu nguyện chung với tôi.”

Nói xong, thiên thần quỳ phục xuống, sấp mình tới khi trán chạm đất. Được thúc đẩy bởi sức mạnh siêu nhiên, Lúcia và Jacinta bắc chước thiên thần và lặp lại những lời các bé nghe thiên thần dâng lên:

“Lạy Thiên Chúa, con tin, con thờ lạy, con trông cậy, và con yêu mến Chúa. Con tha thiết xin Chúa tha thứ cho những kẻ không tin, không thờ lạy, không cậy trông, và không yêu mến Chúa.”

Thiên thần đọc lời cầu nguyện ba lần, rồi đứng dậy nói: “Các bé hãy cầu nguyện như vậy. Thánh Tâm Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria lắng nghe lời các bé cầu nguyện.” Rồi thiên thần biến đi.

Việc Thiên Thần Hòa Bình hiện ra có mãnh lực hết sức siêu nhiên và xúc động đến độ Lúcia và hai bé em họ thực sự ngây ngất khá lâu. Ở tư thế phủ phục, các bé vẫn quỳ từ lúc thiên thần biến đi, Lúcia và Jacinta tiếp tục đọc đi đọc lại lời cầu nguyện thiên thần dạy, cho tới khi mệt nhoài.

Dẫu thanh niên tuấn tú đó không nói mình là thiên thần, các bé cũng không chút khó khăn nhận ra cậu ta từ trời đến. Các bé cảm thấy được Chúa chiếm hữu trong suốt thời gian thiên thần viếng thăm. Việc Chúa hiện diện không thể diễn tả và xác thực không thể lầm lẫn, thấm sâu vào tâm hồn và toàn thân các bé. Sự việc quá hiển nhiên đến nỗi các bé không dám nói, dù với nhau, suốt thời gian còn lại của ngày khó quên này, và suốt tuần lễ kế tiếp các bé vẫn còn sống trong cảm giác lâng lâng, cảm giác này chỉ loãng đi từ từ.

Cảm giác này hết sức thân thiết và thánh thiện không một bé nào nghĩ tới việc tiết lộ dẫu chỉ một chút với bất cứ ai. Các bé chỉ muốn giữ riêng cho mình. Các bé được thuyết phục tuyệt đối rõ ràng như thế. Các bé chỉ nói với nhau nhưng hết sức dè dặt về sự kiện hân hoan trong ngày đáng ghi nhớ đó.

Jacinta, Francisco và Lúcia đang lặng lẽ chơi trên bờ giếng dưới chân vườn thoai thoải phía sau nhà gia đình Santos. Hôm đó là ngày giữa mùa hè nóng bỏng, một trong những ngày nóng nhất năm 1916, các bé thường dẫn cừu về nhà từ khoảng 9 hoặc 10 giờ sáng cho tới xế chiều để tránh cho cừu khỏi cái nóng cháy lúc trưa.

Không một dấu hiệu báo trước, ba cô cậu bé dễ thương lúc nào cũng ở bên nhau này bất chợt thấy mình đối diện với Thiên Thần Hòa Bình, thiên thần ở Núi Cabeco.

Thiên Thần hỏi: “Các bé đang làm gì đó? Các bé hãy cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều! Thánh Tâm Chúa Giêsu và Đức Maria thương các bé. Các bé hãy liên tục dâng lời cầu nguyện và hy sinh lên Thiên Chúa Tối Cao.”

Không hiểu lời yêu cầu chót của thiên thần, Lúcia hỏi ngay:

“Làm cách nào chúng con dâng được các hy sinh?”

“Các bé hy sinh trong bất cứ điều gì các bé có thể, và dâng lên Thiên Chúa làm của lễ đền tạ vì các tội lỗi đã xúc phạm đến Thiên Chúa và làm của lễ cầu xin cho các kẻ tội lỗi ăn năn trở lại. Bằng cách này, các bé xin được hòa bình cho quê hương các bé. Tôi là Thiên Thần Bảo Vệ, Thiên Thần của Portugal (nước Bồ-đào-nha). Trên hết, các bé hãy tiếp nhận và vâng chịu những đau khổ Chúa sẽ gởi đến cho các bé.”

Rồi, bất chợt cũng như lúc hiện ra, thiên thần biến đi.

Cũng như lần trước, các bé xúc động và ngây ngất vì sức siêu nhiên trấn áp của lần thiên thần hiện ra này.

Chính Francisco là người đầu tiên làm cho Lúcia ý thức rõ rệt cô bé ngất trí và kiệt quệ thể xác tới mức nào. Cậu bé này, vì lý do khác thường nào đó, chỉ nhìn thấy thiên thần nhưng không nghe được những lời thiên thần nói. Dĩ nhiên cậu ta thực sự chứng kiến cả hai lần thiên thần hiện ra. Mãi đến xế chiều, khi những hiệu lực đầu tiên của việc thiên thần hiện ra bắt đầu tan loãng và các bé lại bắt đầu chơi đùa, Francisco mới hỏi Lúcia thiên thần nói những gì. Lúcia cảm thấy miễn cưỡng không thể giải thích được khi phải nói đến điều này và bảo Francisco ráng chờ tới ngày hôm sau hoặc hỏi em Jacinta. Francisco thực hiện ngay ý kiến thứ nhì của Lúcia. Nhưng Jacinta cũng bị lôi cuốn hết sức mãnh liệt siêu nhiên, và như Lúcia, cô bé trả lời: “Sáng mai em sẽ nói cho anh nghe. Hôm nay em không thể nào nói được.” Tội nghiệp, Francisco đành phải chờ đợi vậy.

Hôm sau, khi gặp Lúcia, cậu bé hỏi ngay: “Đêm qua chị có ngủ không? Lúc nào em cũng nghĩ tới thiên thần và những lời thiên thần nói với chị.” Mãi tới lúc này Lúcia mới kể cho cậu ta nghe những lời thiên thần đã nói trong hai lần hiện ra.

Francisco thấy nhiều điều trong sứ điệp thiên thần nói vượt quá tầm hiểu biết đối với tầm tuổi đời của cậu, cậu hỏi Lúcia: “Đấng Tối Cao là Ai vậy? ... Thánh Tâm Chúa Giêsu và Đức Maria lắng nghe lời cầu nguyện của các bé nghĩa là gì?” Lúcia trả lời với hết khả năng của cô nhưng không hoàn toàn thỏa mãn được cậu em họ, và cậu ta lại hỏi tiếp. Tâm trí Lúcia vẫn còn trong ảnh hưởng siêu nhiên, chưa hoàn toàn bình thường. Cảm thấy không thể nói, Lúcia bảo Francisco chờ tới hôm sau cô bé sẽ trả lời. Bé Jacinta cũng chia sẻ ý kiến của Lúcia, nên khi Francisco trở lại hỏi thêm, bé cao giọng phản đối: “Coi chừng, không nên nói nhiều tới những điều này.”

Các bé không thể nào giải thích cảm giác của mình sau khi thiên thần viếng thăm. Jacinta nói: “Em không biết điều gì xảy ra cho em. Em không thể nói, cũng không thể nào chơi đùa, ca hát, và em không có sức làm bất cứ điều gì nữa.” Francisco nói thêm: “Thiên thần hẳn phải hơn tất cả những thứ đó chứ. Chúng ta hãy nghĩ tới thiên thần đi.”

Các bé hết sức yêu mến thiên thần và suy gẫm những lời thiên thần nói!

Nhất là những lời thiên thần nói trong lần thứ nhì. Những lời này như ánh sánh soi sáng tâm trí các bé, làm cho các bé hiểu được Thiên Chúa là Ai, Thiên Chúa yêu thương các bé và muốn được các bé yêu thương biết chừng nào, các bé hiểu được giá trị của hy sinh, hy sinh làm đẹp lòng Thiên Chúa chừng nào, mà nhờ đó Thiên Chúa cải hóa các kẻ tội lỗi. Sự hiểu biết này hết sức chân thực đến độ, từ ngày đó trở đi, các bé khởi sự dâng lên Chúa mọi thứ có thể hành hạ thân xác các bé. Tuy nhiên, các bé không cần phải cố gắng phát minh những hành động phạt xác hoặc đền tội. Các bé chỉ giản dị chấp nhận thánh giá Chúa gởi đến. Hàng động đền tội tự chọn là các bé nhận chịu điều thiên thần dạy trong lần thứ nhất hiện ra: sấp mình xuống đất dâng lời cầu nguyện mà các bé rất ưa thích, “Lạy Chúa, con tin, con thờ lạy, con trông cậy, và con yêu mến Chúa. Con nài xin Chúa tha thứ cho những kẻ không tin, không thờ lạy, không cậy trông và không yêu mến Chúa.” Thường thường các bé quỳ phủ phục hàng giờ đọc đi đọc lại lời cầu nguyện đẹp đẽ đó và chỉ ngưng khi nào lưng các bé đau muốn gẫy.

Trong lần kế tiếp hiện ra và cũng là lần chót, thiên thần dạy thêm lời cầu nguyện nữa mà từ đó các bé thường dâng chung với lời cầu nguyện mà thiên thần đã dạy trước. Lời cầu nguyện mới dài hơn nhiều, nhưng các bé nhớ không chút khó khăn, vì những lời thiên thần luôn có sức chế ngự mạnh và in sâu vào tâm trí các bé.

Thiên thần hiện ra lần thứ ba và khác thường nhất vào mùa thu cũng năm đó. Lại cũng chính hốc đá Núi Cabeco là bối cảnh của việc huyền nhiệm sau chót này. Ba bé mục tử cầu nguyện kinh Mân Côi và lời cầu nguyện thiên thần dạy lần thứ nhất xong. Bất thình lình sứ giả thiên quốc hiện ra trước mắt các bé. Lần này vẻ anh tuấn khôi ngô với dáng điệu trẻ trung của thiên thần không làm cho các bé ngây ngất như hai lần trước. Thật vậy, thiên thần đem theo thứ gì lôi cuốn sự chú ý của các bé. Trong tay thiên thần là Chén Thánh, và trên Chén Thánh, thiên thần cầm Bánh Thánh. Từ Bánh Thánh những Giọt Máu nhỏ (rơi) vào trong Chén Thánh. Để Chén Thánh và Bánh Thánh trên không trung, thiên thần quỳ sấp mình xuống đất đọc ba lần lời cầu nguyện sau đây:

“Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh, con thờ lạy Chúa thâm sâu và dâng lên Chúa Thân Xác, Máu và Linh Hồn Cực Châu Báu và Thiên Tính của Chúa Giêsu Kitô, hiện diện trong các Nhà Chầu (Nhà Tạm) trên khắp thế giới, để đền tạ những tội xúc phạm, những tội bất kính và hững hờ chính Chúa Giêsu Kitô bị xúc phạm. Và nhờ công nghiệp vô cùng của Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu và công nghiệp của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, con nài xin Chúa cải hóa các kẻ tội lỗi khốn nạn.”

Rồi thiên thần đứng dậy, cầm Chén Thánh và Bánh Thanh, đặt Bánh Thánh vào lưỡi Lúcia. Thiên thần cho Jacinta và Francisco uống Máu Thánh. Khi phân phát Mình và Máu Thánh Chúa cho ba bé, thiên thần nói:

“Các bé hãy ăn Mình và uống Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô bị loài người xúc phạm kinh khủng. Các bé hãy làm việc đền tạ vì tội lỗi nhân loại và an ủi Thiên Chúa của các bé.”

Lần nữa thiên thần sấp mình xuống đất và cùng với các bé dâng lên lời cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh ...”

Sứ mệnh nơi trần thế đã hoàn tất, thiên thần biến đi, Đây là lần chót các bé thấy thiên thần.

Lần này, cũng như hai lần trước, Francisco không được đặc ân nghe thiên thần nói. Cậu bé cũng vẫn gặp khó khăn trong việc hiểu thấu đáo ý nghĩa những việc xảy ra. Do đó, cậu hỏi Lúcia một câu khá ngạc nhiên:

“Chị Lúcia à, thiên thần cho chị rước Mình Thánh Chúa, nhưng cho Jacinta và em thứ gì vậy?”

Ngay cả Jacinta cũng ngạc nhiên vì sự kém hiểu biết của anh cô bé và Lúcia chưa kịp trả lời thì bé Jacinta đã nói:

“Cũng một thứ, Mình Thánh Chúa. Anh không thấy đó là Máu từ Bánh Thánh nhỏ xuống (rơi xuống) sao?”

Câu trả lời của bé em làm cho Francisco hoàn toàn thỏa mãn, vì câu trả lời đó cho cậu mấu chốt giải thích vấn đề khá kỳ bí đối với cậu.

Francisco nói: “Bây giờ em hiểu, em cảm thấy Chúa ở trong em, nhưng không biết như thế nào.”

Rồi quỳ sấp mình xuống đất cùng với em của cậu và ở tư thế đó thật lâu đọc đi đọc lại lời cầu nguyện thiên thần mới dạy.

Sức mạnh siêu nhiên thúc giục các bé bắt chước những việc thiên thần làm: quỳ phủ phục, đọc đi đọc lại các lời thiên thần đã đọc là điều hoan hỉ và không cưỡng lại được. Lời cầu nguyện này hết sức mãnh liệt, làm cho các bé ngây ngất và hầu như tan biến, các bé thực sự mất đi khả năng sử dụng giác quan. Trong những ngày sau mỗi lần thiên thần hiện ra, cơ thể các bé hoạt động chẳng khác gì được hướng dẫn và thúc đẩy bởi sức mạnh siêu nhiên. Các bé được hưởng an bình và hân hoan, những cảm giác này thực sự mà nói, chỉ thuần túy trong nội tâm. Trong khi tâm trí các bé say sưa tập trung vào Thiên Chúa, sức mạnh huyền bí chi phối thân xác các bé đến độ làm cho các bé suy nhược. Các bé hững hờ với vật chất, tan biến trong sự hiện diện của Chúa, không thể nói ra được.  

2 Vị Nữ Lưu Toàn Ánh Sáng

Ngày Chúa Nhật có nắng rực rỡ, 13 tháng Năm 1917, được tiền định là ngày đáng ghi nhớ từ đây về sau trong lịch sử Giáo Hội Portugal (Bồ-đào-nha).

Cầu nguyện kinh Mân Côi xong, Lúcia và hai bé em họ, Jacinta và Francisco, dẫn đàn cừu đi ngược lên sườn đồi phía bắc Cova da Iria, nơi có đồng cỏ thuộc sở hữu của cha cô bé Lúcia. Khi đàn cừu lặng lẽ gặm cỏ trên đỉnh đồi, các bé đồng loạt nghĩ đến chơi đùa. Tính rất thích những môn tranh đua của Jacinta thúc đẩy bé nói trước nhất:

“Hôm nay chúng ta chơi trò chơi gì đây?”

Lúcia đề nghị: “Trò giả trang.”

“Không,” Jacinta mau mắn trả lời, giọng quyết liệt.

Francisco dò ý: “Vậy chúng ta chơi trò làm đầu đuôi thú đi.”

Jacinta lại phản đối: “Không, cũng không chơi trò đó. Chúng ta đắp bức tường quanh bụi cây đàng kia kìa. Chị Lúcia và em đi kiếm đá, còn anh xây tường.”

Francisco thấy thích thú nên đồng ý ngay. Lúcia cũng đồng ý vì vốn biết từ lâu là vô ích mà còn nguy hiểm nữa nếu chống đối môn chơi cô em họ đã chọn. Chẳng mấy chốc, một bức tường nhỏ lên cao dần quanh bụi cây. Trong khi hăng say làm việc, các bé đâu có biết mười một năm sau, cũng ngày này, ba trăm ngàn người sẽ tụ họp tại Cova da Iria theo dõi vị Đại Diện Giáo Hội Công Giáo, tại chính nơi các bé đang đắp tường hôm nay, làm phép viên đá góc tường của một trong những thánh đường đồ sộ nguy nga nhất Portugal (Bồ-đào-nha).

Thình lình, ánh sáng lóe lên, làm sáng rực khu đồi, khiến các bé ngưng làm việc và nhìn nhau như hỏi.

Francisco hỏi: “Gì thế, chị Lúcia?”

Lúcia đáp: “Chắc đó là chớp. Nhưng kỳ lạ, trên trời không một bóng mây. Dẫu vậy, hẳn có trận bão phía xa, chúng ta nên gom cừu lại và đi về.”

Vốn từng nghe theo lời khuyên và hướng dẫn của cô chị họ hơn tuổi, Jacinta và Fancisco lập tức gom cừu lại. Chẳng mấy lúc, bầy cừu được dẫn đi theo hướng tây nam trên đường về Aljustrel.

Đi khoảng nửa đường xuống hướng tây bắc sườn đồi Cova và gần cây sồi lớn (ngày nay vẫn còn xanh tươi), một làn ánh sáng nữa chớp lên, sáng hơn lần đầu, rực sáng cả bầu trời và khắp vùng quê lân cận, làm lóa mắt ba bé mục tử. Tim các bé bắt đầu đập mạnh, ngực phải rướn lên cao, các bé lùa cừu đi mau hơn.

Khi các bé, từ phía bên trái, đi tới gần khu đất phẳng rộng, bất chợt các bé phải dừng hẳn lại, vì cách các bé chừng hai mươi ba mètres, các bé thấy từ cây sồi phát ra làn ánh sáng hết sức chói chang khiến các bé hầu như bị mù. Được thúc đẩy đồng loạt từ thâm tâm, các bé ngẩng đầu lên nhìn thẳng trước mặt. Trái tim ngây thơ của các bé như ngưng đập vì cảnh hiện ra trước mắt.

Một vị Nữ Lưu xin đẹp đứng trên đỉnh những nhánh lá cao nhất của cây sồi, cây sồi này cao khoảng hơn một mètres, cách trước mặt các bé chừng một mètre. Vị Nữ Lưu là trung tâm bầu ánh sáng rực rỡ, làn ánh sáng từ Vị Nữ Lưu tỏa ta bao bọc cả ba bé.

Biết các bé sợ trận bão và muốn đi về nhà mau, Vị Nữ Lưu lên tiếng trấn an và giữ các bé lại, vì Người đến với một thông điệp quan trọng sinh tử.

Vị Nữ Lưu nói: “Các con đừng sợ. Ta không làm hại các con đâu.”

Được trấn an do âm thanh từ mẫu của Vị Nữ Lưu và dáng điệu hiền từ cũng như lời nói của Người, các bé im lặng ngây ngất chiêm ngưỡng và đắm hồn trong vẻ đẹp thiên quốc đang rực sáng trước mắt.

Vị Nữ Lưu trẻ đẹp này mặc áo trắng, chính xác hơn, áo bằng ánh sáng trắng. Vì Vị Nữ Lưu toàn là ánh sáng và tỏa ra ánh sáng, trong suốt hơn và lóng lánh hơn cái tách pha lê đầy nước tinh khiết nhất phản chiếu ánh sáng mặt trời chói lọi nhất. Nói tóm lại, Vị Nữ Lưu sáng hơn mặt trời, và gương mặt Người quá sức sáng chói đến độ thỉnh thoảng các bé phải hạ thấp những cặp mắt thẫn thờ xuống.

Toàn hảo mọi vẻ, mặc dầu cao hơn trung bình, vị Nữ Lưu xinh đẹp tuyệt vời, thánh thiêng khôn lường, ngôn ngữ loài người không thể nào diễn tả. Không tạo vật nào trên trái đất này sánh với Người được. Các bé chưa bao giờ thấy một người hoặc bức tranh nào có thể so sánh được với vị khách từ trời về vẻ kiều diễm và duyên dáng.

Dung nhan của vị Nữ Lưu gồm những nét tuyệt diệu duyên dáng khôn tả, ánh mắt dịu dàng hiền mẫu hòa với vẻ cương nghị nghiêm trang và nét buồn vời vợi. Đầu và hai vai Người hơi nghiêng về phía trước hướng vào các bé phía dưới chân Người.

Đôi bàn tay xinh đẹp của vị Nữ Lưu chắp lại trước ngực trong dáng điệu cầu nguyện. Chuỗi Mân Côi quí báu có cây thánh giá trắng tựa bạch ngọc treo thòng xuống qua lòng bàn tay và lưng bàn tay phải.

Vị Nữ Lưu mặc áo dài trắng long lanh đơn sơ, không có cổ áo, cũng không có cổ tay áo, phủ dài tới chân. Mặc dầu thu lại ngang thắt lưng, áo dài không có thắt lưng hoặc khăn thắt ngang. Tấm áo choàng cũng bằng ánh sáng trắng có viền xinh xắn hai bên và dưới gấu bằng đường kim tuyến nổi bật trên nền ánh sáng, chẳng khác gì một tia sáng mặt trời lóng lánh hơn các tia sáng khác phủ trên đầu, qua vai và mình. Tuy vậy, trán và toàn thể phần trước áo dài lộ ra đầy đủ. Hai đầu dây, như hai tia sáng mặt trời màu vàng sáng chói hơn so với áo dài và áo choàng, buông lơi từ cổ xuống trước ngực. Hai mối dây này kết lại với nhau, bên trên thắt lưng một chút, thành trái cầu nhỏ lóng lánh sắc vàng. Xuống phía dưới, dọc giữa áo dài, cách gấu khoảng ba mươi phân, có ngôi sao vàng lấp lánh.

Đôi chân vị Nữ Lưu để trần, cũng như mặt và hai bàn tay, có ánh sáng màu da thịt, đặt nhẹ trên ngọn những nhánh lá cây sồi.

Vị Nữ Lưu ánh sáng đứng giữa bầu ánh sáng và hoàn toàn được ánh sáng bao phủ. Ngôn ngữ loài người hiển nhiên không đủ để mô tả vị Nữ Lưu này. Bà toàn là ánh sáng. Ánh sáng như những lớp sóng và cho người ta cảm tưởng ý phục của Người gợn sóng. Áo dài và áo choàng tỏa ra những làn ánh sáng khác nhau, lớp này trên lớp kia. Ánh sáng có nhiều mầu, trắng, vàng, và các màu khác tùy theo cường độ màu sắc ánh sáng khác nhau, các bé phân biệt được những phần khác nhau trên thân mình và y phục, mặt và tay, áo dài và áo choàng của Người.

Sau một lúc chiêm ngưỡng say sưa, Lúcia mạnh dạn hỏi:

“Bà từ đâu tới? (Donde é vossemecê?)”

Vị Nữ Lưu từ ái trả lời: “Ta từ thiên đàng đến. (Eu sou do cé.)”

Cô bé hỏi tiếp: “Và Bà muốn con làm gì?”

“Ta đến xin cả ba các con tới đây sáu tháng liên tiếp, vào ngày mười ba mỗi tháng, cũng giờ này. Khi đó Ta sẽ cho các con biết Ta là Ai, và Ta muốn điều gì. Sau đó Ta sẽ trở lại đây lần thứ bảy.”

Được khích lệ rất nhiều do sự sẵn sàng và nhân từ mà vị Nữ Lưu đã trả lời cô bé, Lúcia nôn nóng hỏi thêm: “Con có được lên thiên đàng không?”

“Có, con sẽ được lên thiên đàng.”

“Còn Jacinta?”

“Có.”

“Còn Francisco?”

“Nó cũng được lên thiên đàng, nhưng nó phải cầu nguyện rất nhiều kinh Mân Côi.”

Hai cô gái ở Aljustrel mới chết hồi gần đây. Mặc dù cả hai đều tương đối lớn tuổi hơn Lúcia, nhưng cô bé biết rõ cả hai, vì hai cô thường đến nhà Lúcia học đan với chị của cô. Có lẽ vị Nữ Lưu nhân từ sẽ vui lòng cho biết đôi điều về hai người bạn của cô.

Lúcia hỏi: “Chị Maria das Neves có ở trên thiên đàng không?”

“Có,” vị Nữ Lưu trả lời.

“Còn Amelia?”

“Cô đó sẽ phải ở luyện ngục cho tới tận thế.”

Sau khi trả lời các câu hỏi của Lúcia, vị Nữ Lưu đưa ra lời yêu cầu quan trọng:

“Các con có vui lòng tận hiến cho Thiên Chúa và chịu đau khổ Chúa muốn gởi đến cho các con, để đền tạ tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa và van xin cho kẻ tội lỗi ăn năn trở lại không?”



Lúcia thấy những lời yêu cầu này rất giống lời thiên thần yêu cầu trong lần thứ nhì hiện ra năm trước. Biết rằng hai bé em họ của cô hoàn toàn đồng ý, Lúcia trả lời không chút do dự:

“Thưa Bà, chúng con vui lòng! (Sim, queremos!) ”

Tuy nhiên, cô bé chẳng ý thức được bao nhiêu là cô và hai bạn nhỏ sẽ sớm phải chịu đau khổ chừng nào. Dĩ nhiên, Đức Mẹ biết trước những đau khổ đang chờ các bé, và theo cách Con Chí Thánh của Mẹ đối với các môn đệ được tuyển chọn, Đức Mẹ nói trước những thử thách và đau khổ đang chờ đợi các bé và hứa ban ơn phù trợ. Đức Mẹ nói tiếp:

“Các con sẽ phải chịu nhiều đau khổ, nhưng ơn Chúa sẽ nâng đỡ an ủi các con.”

Khi nói những lời này, Đức Mẹ dang rộng hai bàn tay theo dáng điệu linh mục khi nói: “Chúa ở cùng anh chị em! (Dominus vobiscum!) ” trong Thánh Lễ và tỏa ra ánh sáng cực mạnh về phía các bé mục tử. Ánh sáng này giống như phản quang từ đôi bàn tay chói sáng của Đức Mẹ chiếu ra. Ánh sáng xuyên qua trái tim và thấm sâu vào linh hồn các bé, “làm cho các bé thấy mình đắm chìm trong Thiên Chúa, Đấng là ánh sáng, rõ ràng như qua những tấm gương trong và mạnh nhất.”

Xúc động từ đáy lòng, các bé quỳ xuống và sốt sắng dâng lời nguyện:

“Ôi lạy Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, con thờ lạy Chúa, lạy Chúa, con yêu mến Chúa trong Phép Thánh Thể!”

Lúc sau, Đức Mẹ nói tiếp:

“Các con hãy cầu nguyện kinh Mân Côi hằng ngày, để xin được hòa bình và chấm dứt chiến tranh.”

Sứ vụ ngày hôm nay hoàn tất. Đức Mẹ xinh đẹp tuyệt vời từ từ xoay mình, uy nghi và lặng lẽ cất mình lên, di chuyển không động chân về hướng đông, nơi đây Đức Mẹ khuất dạng vào vũ trụ bao la. Ánh sáng lung linh bao quanh Đức Mẹ chẳng khác gì mở lối Đức Mẹ đi giữa các vì sao và tinh cầu.

Việc Đức Mẹ hiện ra tại Cova da Iria là một màn trong những biến chuyển gay cấn vĩ đại, phần mở đầu là nhiều lần Thiên Thần Hòa Bình và Thiên Thần Bảo Vệ Portugal (Bồ-đào-nha) hiện ra trước đó. Những màn liên hệ trực tiếp đến các biến chuyển này cũng xảy ra vào ngày hôm nay, 13 tháng Năm, 1917, ở những nơi khác trên thế giới.

Khi Đức Mẹ nói với ba bé ở Fátima về hòa bình, Thánh Linh Thiên Chúa cũng đổ tràn đầy ơn linh hướng trên một người, mà tên của vị này có nghĩa là hòa bình, và ngài đã chọn mang trên áo mục vụ của mình hình chim bồ câu và nhánh ô liu tiêu biểu hòa bình. Thật vậy, cũng chính buổi sáng Chúa Nhật, 13 tháng Năm, 1917, Đức Eugenio Pacelli, sau này là Đức Thánh Cha Piô XII sẽ tích cực hoạt động để truyền bá thông điệp Fátima, được tấn phong Giám Mục tại thánh đường Thánh Phêrô ở Roma. Và cũng chính trong ngày mùa xuân hôm nay, ma quỉ âm mưu làm hại thế giới với tất cả kỹ thuật tinh vi xảo quyệt dưới quyền nó. Suốt nhiều năm, ma quỉ đã nhồi nắn trí óc một người được ma quỉ dùng làm công cụ chính của nó là Marxist Nicholas Lenin. Moscow (Mạc-tư-khoa), trung tâm đầu não nước Nga, là khung cảnh của cuộc đánh phá chủ chốt ngày hôm nay, 13 tháng Năm, 1917. Đã tới giờ những người Cộng Sản Nga đẩy mạnh các kế hoạch xảo quyệt của Satan và đồng bọn phản thần của nó. Lenin ra lệnh cho các kỵ mã, các đảng viên của ông ta, lên đường thực hiện loạt đầu tiên các hành động tàn bạo mà sau cùng dẫn tới chiến thắng của Cộng Sản trên đất Nga.

Những người điên cuồng này phóng ngựa mải miết cho tới khi họ đến một thánh đường Công Giáo, nơi bà Maria Alexandrovitch đang dạy giáo lý cho hai trăm trẻ em. Họ phóng ngựa xông qua cửa thánh đường xuống các lối đi. Họ phóng ngựa qua giậu chịu Lễ. Bàn thờ là mục tiêu thứ nhất của cơn giận dữ như ma quỉ của những người này. Kế đến họ lật đổ và phá vỡ các tượng ảnh dọc lối đi. Rồi để chắc chắn là người ta hiểu hành động của họ đánh dấu bước khởi đầu mọi nỗ lực chống lại Thiên Chúa và Giáo Hội, những người vô thần và vô lương tâm này trút lòng hận thù như ma quỉ của họ trên các trẻ thơ, họ xông tới giết một số em.

3 Đức Mẹ Xinh Đẹp Tuyệt Vời

Một lúc sau khi Đức Mẹ đã đi khỏi, ba bé vẫn còn đăm đăm nhìn về hướng Đức Mẹ khuất dạng vào không gian.

Ngay khi những vui sướng chỉ vừa mới bắt đầu loãng đi, một người tới gần nói với các bé:

“Này các bé, cừu của các bé lang thang vào ruộng giâu đàng kia kìa,” ông ta vừa nói vừa chỉ vào khu đất của ông José Matias. “Tôi đã ném vài cục đá vào đám cừu, những chắc chắn là đám cừu đã ăn mất một ít cây rồi.”

Lập tức các bé chạy tới vườn giâu, vì hầu như các bé đang nghe cha mẹ quở trách vì chểnh mảng không coi sóc đàn cừu để gây ra thiệt hại cho vườn của người hàng xóm. Nhưng khi các bé đi khắp các luống và xem xét các cây giâu, vẻ ngạc nhiên hiện trên mặt các bé. Đồng loạt các bé thốt lên: “Sao, cừu không ăn một cây giâu nào cả?”

Không nói thêm một lời, nhưng cả ba bé lúc này đều tin chắc hơn khi nào hết: Vị Nữ Lưu các cô cậu được đặc ân diện kiến chính là Mẹ Thiên Chúa.

Bình tĩnh lại, các bé đi tìm bóng mát của cây sồi quen thuộc để các bé có thể ngồi nhớ lại những giây phút sung sướng được thị kiến.

Sau ít phút im lặng chiêm niệm, Francisco nói với cô chị họ:

“Chị Lúcia à, Đức Mẹ nói gì khi Người nói chuyện với chị vậy?”

Jacinta bất chợt chen vào: “Gì thế, anh Francisco, anh không nghe được Đức Mẹ nói gì sao?” Jacinta hết sức ngạc nhiên, vì bé nghe được không sót một lời Đức Mẹ đã nói và nghĩ rằng anh của bé cũng được nghe như vậy.

Cậu bé trả lời: “Không, anh không được nghe Đức Mẹ nói, nhưng anh đã nghe hết mọi lời chị Lúcia nói với Đức Mẹ.”

Lúcia nói ngay: “Được, chị sẽ nói cho em nghe tất cả những điều Đức Mẹ đã nói. Hôm nay chị không cảm thấy như sau những lần thiên thần hiện ra, chị có thể nói. Đức Mẹ nói “Người từ thiên đàng tới, chị và Jacinta sẽ được về thiên đàng.” Khi chị hỏi Đức Mẹ em cũng được về thiên đàng chứ, thì Đức Mẹ nói: “Có,” nhưng thêm là “em phải cầu nguyện rất nhiều kinh Mân Côi.”

“Ôi, lạy Đức Mẹ! Con sẽ cầu nguyện kinh Mân Côi thật nhiều như Đức Mẹ muốn,” cậu bé kêu lên, khoanh tay trước ngực, hoan hỉ với ý nghĩ là cậu sẽ được nhận vào thế giới của Đức Mẹ tuyệt vời diễm lệ mà chỉ phải làm quá ít.

Lúcia nói tiếp: “Đức Mẹ muốn ba chị em chúng ta trở lại đây sáu tháng liên tiếp, ngày mười ba mỗi tháng, cũng vào giờ đó. Rồi Người sẽ nói cho chúng ta biết Người là Ai, và Người muốn chúng ta làm gì. Đức Mẹ cũng nói Người sẽ trở lại đây lần thứ bảy, nhưng không rõ khi nào.

Chị hỏi Đức Mẹ: “chị Maria das Neves có ở trên thiên đàng không, Đức Mẹ trả lời: “Có,” nhưng Đức Mẹ cũng nói “chị Amelia còn ở trong luyện ngục cho tới tận thế.”

Kế đó Đức Mẹ hỏi chị em chúng ta có vui lòng tận hiến cho Thiên Chúa và sẵn sàng hy sinh chấp nhận mọi đau khổ Chúa sẽ vui lòng gởi đến cho chúng ta để đền tạ các tội lỗi đã xúc phạm đến Thiên Chúa, và xin cho các kẻ tội lỗi ăn năn trở lại, và đền tạ những tội lỗi xúc phạm Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria hay không. Chị nói chúng ta sẵn sàng. Chị biết em và Jacinta chắc chắn sẵn lòng vì thiên thần đã từng yêu cầu chúng ta làm việc hy sinh và chấp nhận những đau khổ Thiên Chúa sẽ gởi đến, để đền tạ tội lỗi và xin ơn cải hóa các kẻ tội lỗi, và chúng ta đã cố gắng hết sức thi hành điều thiên thần yêu cầu.

Sau đó, Đức Mẹ nói: “Lúc đó các con sẽ phải đau khổ nhiều, nhưng ơn Chúa sẽ nâng đỡ an ủi các con.” Chính lúc này Đức Mẹ mở rộng hai bàn tay và chiếu ánh sáng mạnh vào đáy lòng chúng ta.

Những lời sau cùng Đức Mẹ nói là: “Các con hãy cầu nguyện kinh Mân Côi hằng ngày để xin được hòa bình cho thế giới và chấm dứt chiến tranh.”

Khi dứt lời, Lúcia thấy hai bé em họ đang trầm tư. Francisco chắp tay trước ngực, đăm đăm nhìn về phía chân trời. Jacinta, khuỷu tay chống trên đầu gối, hai tay ôm cằm, cũng đăm đăm nhìn về phía trời xanh thăm thẳm. Điều này không làm cho Lúcia ngạc nhiên, vì chính cô bé cũng cảm thấy bị ảnh hưởng mãnh liệt do biến cố vĩ đại vừa mới xảy ra.

Hết sức hoan hỉ, Lúcia cùng với hai người em họ suy gẫm thầm lặng. Điều thứ nhất đánh động niềm vui riêng tư của Lúcia là sự khác biệt lớn lao giữa những gì cô bé cảm thấy lúc này, sau khi Đức Mẹ hiện ra, so với những cảm giác như sau ba lần thiên thần đến thăm. Chắc chắn cũng niềm vui đó, cũng sự an bình hân hoan như vậy. Nhưng thay vì hững hờ thể chất trước kia, cô bé cảm thấy rõ ràng sức linh hoạt mỗi lúc mỗi tăng thêm; thay vì tan biến trong sự hiện diện của Thiên Chúa là niềm vui khôn tả; thay vì không nói năng được là hăng hái chuyện trò.

Jacinta và Francisco cũng nhận thấy sự khác biệt rõ ràng như thế. Chính Jacinta là người đầu tiên phá vỡ sự chiêm niệm thầm lặng của cả nhóm. Sự thúc đẩy trong lòng của niềm vui này quá lớn lao không thể nào giữ kín được.

Bé Jacinta hoan hỉ kêu lên: “Ồ, Đức Mẹ xinh đẹp quá chừng! (Ai, que Senhora tão bonita!) ”

Francisco bình luận tiếp: “Không phải Đức Mẹ tỏa ra ánh sáng rực rỡ sao, ánh sáng từ Đức Mẹ tỏa ra mạnh quá sức khiến em cứ phải hạ thấp tầm mắt xuống.”

Nỗi lo âu từ từ khiến Lúcia nhíu lông mày lại khi nhận thấy sự gia tăng về nói năng của hai người bạn trẻ. Cô bé nhớ lại rất rõ giá đắt đã phải trả khi một trong những cô bạn gái, cùng với cô bé nhìn thấy bóng dáng thiên thần hai năm trước, đã nói với mẹ của cô bé về “một phụ nữ không đầu.” Nếu Lúcia hoặc hai em họ bé bỏng nhắc tới Đức Mẹ các bé vừa mới được thị kiến, chắc chắn các bé sẽ bị chế diễu, nhạo báng như lần tiết lộ trước. Lúcia cảm thấy được chỉ dẫn từ thâm tâm rất rõ ràng: một số những lời Đức Mẹ đã nói không nên được tiết lộ. Lúcia cảnh giác Jacinta và Francisco không được nói gì về Đức Mẹ thì Jacinta lại bất chợt kêu lên: “Ôi, Đức Mẹ xinh đẹp biết chừng nào! (Ai, que Senhora tão bonita!) ”

Lúcia thất vọng nói: “Chị thấy rõ thế nào các em cũng sẽ nói điều này với người khác.”

“Ồ, không đâu. Em sẽ không nói đâu. Chị đừng lo.”

“Được, chắc chắn em sẽ không nói nhé!”

Phần còn lại trong buổi chiều qua mau với chuyện trò và suy niệm vui sướng. Mãi khi ánh hoàng hôn ngả bóng ngang thung lũng, các bé mới có can đảm gom đàn cừu và rời khỏi thung lũng thần thánh mà chỉ trong mười phút vắn vỏi các bé đã được nếm niềm vui bất tận của thiên đàng.

Khi chia ta hai ngừơi em họ bé nhỏ tại nhà gia đình Marto, Lúcia lại đưa ra lời căn dặn:

“Các em nhớ, không được nói một lời về điều đó với bất cứ ai, không nói với bất cứ ai.”

Cả Jacinta và Francisco cùng trả lời, “Chúng em nhớ. Chúng em sẽ không nói gì với bất cứ ai.”



4 Jacinta Kể Chuyện

Lúcia lặng lẽ ăn cơm tối hôm đó. Linh hồn cô bé tràn ngập sự ngọt ngào và vẻ diễm kiều tuyệt vời của Đức Mẹ, đến độ không thể nói gì ngoài Đức Mẹ, mà về Đức Mẹ thì không thể nói ra điều gì được. Sau khi đọc kinh tối và nghe bà mẹ đọc một đoạn Tân Ước, Lúcia lặng lẽ lên giường với bí mật châu báu của biến cố vĩ đại trong ngày được khóa an toàn trong trái tim.

Nhưng với bé Jacinta, mọi việc khác hẳn. Đứng bên phía trái cửa ra vào, cô bé bồn chồn chờ đợi cha mẹ về, ông bà đi tới thị trấn Batalha dưới thung lũng Fátima.

Khi ông bà Marto về tới, trời đã tối, nhưng Jacinta vẫn đứng ở cửa đón cha mẹ. Ngay khi nhận ra bóng mẹ, cô bé chạy vội tới ôm bà thật chặt. Bà mẹ hiền từ không biết điều gì tạo ra cách đón tiếp bất thường này, vì Jacinta không có thói quen hành động như vậy. Nhưng ngạc nhiên ban đầu nhường chỗ cho kinh ngạc khi bà nghe con gái nhỏ mừng rỡ chào:

“Ồ, má à, hôm nay chúng con thấy Đức Mẹ ở Cova da Iria.”

Bà mẹ cười nhạo nói: “Má không tin điều đó. Con phải là vị thánh nhỏ tốt lành mới được nhìn thấy Đức Mẹ.”

Lập tức, mặt cô bé xịu xuống. Mẹ cô không tin Đức Mẹ! Nhưng làm sao cô bé hoài nghi Đức Mẹ được! Chính bé đã tận mắt nhìn thấy Đức Mẹ, Người nói Người từ thiên đàng đến. Trái tim cô bé xác nhận rằng Vị Nữ Lưu kiều diễm vô song đó chính là Đức Trinh Nữ.

“Má à, xin má tin đi!” cô bé cao giọng cãi, với lòng hăng hái của trái tim ngây thơ.

Không trả lời, bà Olimpia bước qua cửa.

Nhưng Jacinta theo bén gót.

Cô bé nói ngay khi hai mẹ con vào trong nhà: “Má à, con sắp sửa đi cầu nguyện chung với anh Francisco đây, đó là điều Đức Mẹ yêu cầu chúng con làm.”

Mừng vì thoát được con bé, mà câu chuyện con nhỏ nói bà không tin chút nào, bà mẹ để cho con bé đi. Nhưng sự an bình của bà không được lâu, vì ngay khi vừa mới cầu nguyện chung với anh của bé xong, Jacinta trở lại tấn công:

“Thưa mẹ yêu quí, chúng ta phải cầu nguyện kinh Mân Côi hằng ngày.”

Bà mẹ phản pháo: “Nhưng đó không phải thói quen. Chúng ta không phải đọc kinh bây giờ chứ, phải không?”

Bé nài nỉ: “Hãy cầu nguyện, má à, hãy cầu nguyện.”

Dẫu rằng không tin chuyện con gái kể, tính tò mò của bà Olimpia cũng bị khích thích. Sau đó, trong bữa ăn, trước mặt mọi người trong gia đình và hai người bà con tình cờ có mặt trong nhà lúc đó, bà hạch hỏi Jacinta và Francisco về việc Đức Mẹ hiện ra. Những lời hai bé nói thêm lúc này cũng không tăng thêm lòng tin của bà Olimpia vào biến cố Đức Mẹ hiện ra, và bà tiếp tục ít để ý tới.

Trong gia đình Marto, ít nhất có một người xúc động mạnh vì câu chuyện của hai đứa con nhỏ, đó là ông bố. Biết rằng Jacinta và Francisco tuyệt đối thực thà và hoài nghi khả năng tuổi thơ ngây của hai bé con thể dựng đứng được câu chuyện như vậy, ông Manuel Pedro cảm thấy hoàn toàn tin những điều hai bé con của ông nói. Vả lại, cũng phải thừa nhận rằng trong dòng lịch sử, Đức Mẹ đã nhiều lần hiện ra vì lợi ích cho nhân loại, ông Pedro không thấy có lý do gì Thiên Chúa Toàn Năng lại không để Đức Mẹ thăm viếng trần thế lần nữa. Đúng vậy, ông Pedro cảm thấy rõ rệt phải nhận những điều các bé con của ông nói là thực.

Sáng sớm hôm sau, khi đứng dưới gốc cây vả trong vườn thoai thoải sau nhà, Lúcia đang sung sướng nhớ Đức Mẹ diễm tuyệt từ thiên đàng đến, thì chị Maria dos Anjos, chị cả của cô bé, đến gần. Chị Maria vừa mới nghe người lối xóm nói về Đức Mẹ hiện ra, người ngày được bà Marto kể cho nghe câu chuyện. Bị áp lực vì câu hỏi nằng nặc ép buộc của chị Maria, Lúcia đành phải nói thực chính cô bé đã được diện kiến một Vị Nữ Lưu xinh đẹp tuyệt vời từ thiên đàng tới, Người cũng yêu cầu cô bé và hai em họ trở lại nơi đó sáu tháng liên tiếp, và hứa sẽ cho các bé biết Người muốn gì.

Ngay lúc đó, Francisco tới nơi và xác nhận điều kinh hoàng là Jacinta đã nói với mọi người trong nhà về những việc đã xảy ra ngày hôm trước.

Như thế là Jacinta đã nói rồi! Đó chính là điều Lúcia lo sợ. Giờ đây, niềm vui khó tin, đã từng là của riêng cô từ ngày hôm qua và hy vọng sẽ tồn tại mãi mãi, đang bị tấn công dữ dội. Lớp sóng buồn bực thất vọng, ngay cả đến tức giận nữa, chạy khắp thân thể cô bé. Bất chợt cô bé bứt rứt muốn trút ngay ra cho cô bé em họ bép xép. Lúcia nói: “Này, Francisco lại đây, chúng ta đi xem có tìm thấy Jacinta không.”

Khi Lúcia và Francisco tới gần góc đường mòn bụi bậm lởm chởm đá, chạy qua Aljustrel, từ nhà gia đình Santos đến nhà gia đình Marto, hai bé thấy Jacinta đứng tựa lưng vào tường trước nhà, mắt đăm đăm nhìn xuống đất. Khi đi xuống hướng về phía ngôi nhà, hai bé thấy Jacinta rất buồn rầu lo âu, bây giờ bé ý thức được những điều bé đã làm. Bé đã không giữ lời hứa và mở cửa cho bao nhiêu rắc rối.

Khi thấy Lúcia và Francisco đến gần, bé cúi đầu, hạ thấp mắt xuống, liếc nhìn ánh mắt đầy trách mắng trên mặt đỏ bừng của Lúcia, Jacinta biết Lúcia đã biết hết sự bẻm mép đầy tai họa của mình.

Lúcia bực tức la lên chua chát:

“Jacinta, em nói để làm gì? Chị Maria của chị đã nghe biết về Đức Mẹ, chị ấy vừa mới nói với chị đây. Mẹ em đã kể với các bà trong làng những gì em nói với mẹ em tối hôm qua, và lúc này mọi người sẽ biết hết!”

Bé Jacinta không dám nhìn Lúcia, chỉ lặng lặng nghe lời kết tội cay đắng của người chị họ. Thái độ của bé là xấu hổ và hối hận hết sức. Khi Lúcia không trách mắng nữa, bé Jacinta mới nói, giọng nghẹn ngào, và những giọt lệ to lăn dài xuống hai bên má:

“Cái cái gì trong trái tim em khiến em không thể im lặng được,” bé vừa nói vừa chắp đôi tay nhỏ nhắn trên ngực.

Xúc động vì sự buồn rầu và thực tâm hối hận của Jacinta, Lúcia nói:

“Này, em đừng khóc nữa, và đừng nói gì thêm với bất cứ ai về những điều Đức Mẹ đã nói với chúng ta.”

“Nhưng mà em đã nói điều đó ra rồi.”

“Em đã nói những gì?” Lúcia lo lắng hỏi, vì sợ cô em đã tiết lộ “bí mật.”

“Em nói Đức Mẹ hứa đưa chị em chúng ta về thiên đàng.”

“Thế là lập tức em đi khoe điều đó!” Lúcia trách mắng thêm, mặc dầu thâm tâm cô đã được dịu bớt là bé Jacinta đã không tiết lộ gì hơn.

“Chị Lúcia à, xin tha thứ cho em, và em sẽ không nói gì với bất cứ ai nữa đâu.”

5 Tại Nhà Cha Sở

Hai tuần lễ trôi qua kể từ ngày Đức Mẹ hiện ra, bà Maria Rosa vừa mới được cha sở, cha Ferreira, cho biết muốn gặp bà và Lúcia tại văn phòng ngài. Mặc dầu xấu hổ phải gặp cha sở trong trường hợp này, bà Maria Rosa cũng mừng vì nghĩ cha sở sẽ nói chuyện với con nhỏ. Có thể ngài sẽ thành công bắt con nhỏ thú tội nói láo kinh khủng của nó.

Bước tới cửa bếp mở ra sân nhỏ có hàng rào, bà gọi con gái nhỏ:

“Lúcia, vào trong bếp này, má có chuyện cần nói với con.”

Khi cô bé đã ngồi trên ghế đẩu bên lò bếp, bà mẹ nói:

“Này Lúcia, ngày mai mẹ phải dẫn con tới gặp Cha Bề Trên (O Senhor Prior). Khi tới đó, má muốn con quỳ ngay xuống xưng tội nói láo của con, xin ơn tha thứ và làm việc đền tội cha sở (cha xứ) sẽ định.”

Sáng hôm sau, hai mẹ con ra đi sớm, bà Maria Rosa muốn Lúcia dự Thánh Lễ trước khi gặp cha sở.

Tội nghiệp Lúcia! Trái tim cô bé đập nhanh quá sức khi bé đóng cửa nhà. Chừng một tiếng đồng hồ nữa, cô bé sẽ phải đối diện với cha sở. Mặc dù vốn biết cha sở rất nhân từ, nhưng đây không phải buổi viếng thăm cha sở như thường lệ. Cô bé lặng lẽ theo sau bà mẹ trên khoảng đường bụi bậm gồ ghề. Khi hai mẹ con đi ngang nhà gia đình Marto, Lúcia chạy vội vào để nói vài lời với Jacinta. Lúcia cảm thấy cần trút nhẹ trái tim nặng chĩu, giãi bày tâm sự với cô em họ thân mến, dù chỉ trong vài phút phù du. Không muốn để mẹ phải chờ lâu, Lúcia vội vã nói với Jacinta, còn trong giường, về trường hợp của mình và xin bé cầu nguyện giúp. Rồi vội vàng chạy theo tới gần bà mẹ vẫn lũi thũi một mình trên đường. Lúcia cẩn thận đi cách sau mẹ một khoảng với hy vọng tránh được một lần những lời nói nhức nhối. Tuy vậy, sự cẩn thận của cô bé chẳng được ích gì. Hai mẹ con mới đi khỏi nhà gia đình Marto một khoảng ngắn thì bà Maria Rosa lại khởi sự nguyền rủa sự dối trá. Sau cùng, khi đến nhà thờ, Lúcia nói:

“Nhưng mà thưa mẹ yêu dấu, làm sao con nói được là con không thấy Đức Mẹ, trong khi con đã thực sự thấy Người?”

Khác thường, bà Maria Rosa không trả lời. Thực ra, bà không biết phải trả lời thế nào, bà đành chọn giữ hòa.

Mặc dầu trái tim Lúcia tràn ngập sợ hãi đến chết được và lo âu suốt Thánh Lễ, cô bé cũng đủ tự chủ nhớ lại được lời Đức Mẹ yêu cầu dâng hy sinh lên Thiên Chúa để đền tạ tội lỗi và xin cho các kẻ tội lỗi ăn năn thống hối.

Thánh Lễ đã xong, quá mau. Lúcia hẳn muốn Thánh Lễ kéo dài bất tận. Cô bé theo mẹ rời khỏi thánh đường mà tim đập như muốn nhảy ra ngoài. Hai mẹ con băng qua công viên bụi bậm đi về phía nhà cha sở bên tay phải. Khi hai mẹ con đang bước lên cầu thang dẫn tới hành lang, bà Maria Rosa bất chợt quay sang Lúcia và nóng nảy nói:

“Này con, con đừng làm khổ mẹ thêm nữa. Con hãy nói cho cha Bề Trên (o Senhor Prior) biết rằng con đã nói láo, để trong nhà thờ ngày Chúa Nhật, ngài cho mọi người biết đó chỉ là điều bịa đặt, và như vậy chấm dứt hẳn câu chuyện. Con có nghĩ nếu vấn đề cứ tiếp tục, mọi người đổ xô tới Cova da Iria cầu nguyện trước cây sồi không?”

Lên tới hành lang, bà Maria Rosa gõ cửa và được người chị của cha sở mời vào nhà. Vì cha sở còn ở nhà thờ để tạ ơn sau Thánh Lễ, bà Maria Rosa và Lúcia được mời ngồi ghế chờ đợi.

Người chị của cha Manuel Ferreira cho ngài biết mẹ con bà Maria Rosa đang chờ. Ngài vội vàng kiểm điểm lần chót trường hợp này trước khi rời khỏi thánh đường. Cha Manuel Ferreira lo âu về buổi viếng thăm này, ngài ý thức chính ngài có nhiệm vụ tìm hiểu cội nguồn câu chuyện Đức Mẹ hiện ra. Nhiều lời tường thuật khác nhau tới tai ngài mà vẫn chưa tìm ra căn nguyên, tuy vậy, ngài đã nghe đủ để sắp thành hệ thống khá rõ rệt về những điều ba em bé nói là đã xảy ra. Thật vậy, “đối với cá nhân ngài, ngài không tin những điều các em bé nói là có thực. Ngài thực sự bối rối và không có ý kiến dứt khoát về thực chất của sự việc gọi là “Đức Mẹ hiện ra.”

Sự hoài nghi của cha sở kèm theo nỗi lo âu ghê gớm. Mọi người đều muốn biết, với tư cách lãnh đạo tôn giáo chính thức tại địa phương, ngài nghĩ thế nào về vấn đề này. Cha Ferreira ước muốn có thể đi tới quyết định dứt khoát! Như thế ngài có thể thoát khỏi những hoài nghi ghê gớm liên miên dày vò tâm trí. Thật vậy, khi đó ít nhất ngài cũng được hưởng an bình trong tâm hồn, điều đã bị thiếu sót một cách đáng buồn từ lần đầu tiên nghe nói về sự kiện “Đức Mẹ hiện ra tại Cova da Iria.”

Lần nữa, ít nhất lần thứ một trăm, cha Ferreira ôn lại năm giả thuyết khả dĩ chấp nhận được về vụ Cova da Iria.

Có thế có việc Đức Mẹ hiện ra thực. Thực tế, Đức Mẹ có thể ban vinh dự cho Portugal (Bồ-đào-nha) bằng cách viếng thăm như Đức Mẹ đã làm tại Lourdes, France (Lộ-đức, Pháp Quốc), năm 1858. Trong trường hợp đó, ân sủng biết bao cho giáo xứ và tổ quốc của cha! Niềm vui tinh tuyền khôn tả chạy khắp cơ thể cao lớn của cha sở, khi ngài nghĩ việc Đức Mẹ hiện ra là có thực. Nhưng niềm vui này quá ngắn, vì tự đáy lòng, cha Ferreira nghĩ không thể nào Đức Mẹ đã thực sự hiện ra tại Cova da Iria.

Nếu giả thuyết này không đúng, mà có vẻ là trường hợp này. Dẫu vậy, ít ra cũng còn bốn giả thuyết nữa. Việc đó chỉ giản dị là điều nói dối, cậu chuyện các bé tạo ra để làm cho mình thành quan trọng. Nhưng giả thuyết này bị bác bỏ mau lẹ. Mặc dầu ở Fátima chỉ mới bốn năm, ngài biết rõ các bé này, không thể nào tin các bé có khả năng sáng tạo điều giả dối như vậy.

Việc đó có thể do cha mẹ chúng sắp đặt vì hư danh hoặc để khai thác vật chất. Vinh dự biết bao cho gia đình có người được thị kiến! Nhưng lần nữa, danh giá gia đình Marto và gia đình Santos, nhất là ông Antonio Santos ghiền rượu, bắt buộc cha sở phải loại bỏ giả thuyết này. Mọi người cũng biết bà Maria Rosa quyết liệt tuyên bố không tin Đức Mẹ hiện ra và không ngừng đày đọa cô con gái mà bà kết tội nói láo.

Ảo giác cũng có thể đúng. Đức Mẹ có thể là tưởng tượng của tuổi thơ ngây và bịnh hoạn. Những em bé cho là được thị kiến có thể là nạn nhân của chính đầu óc bệnh hoạn của các bé, không phân biệt được những sản phẩm tưởng tượng với thực tế. Nhưng các bé này sinh trưởng trong những gia đình không có dấu vết gì về tâm thần bất thường, và chính các bé chưa bao giờ tỏ ra có dấu vết gì về tâm trí bất bình thường. Các bé khỏe mạnh và tráng kiện, chúng ở ngoài trời nắng cả ngày. Như vậy không có lý do chấp nhận giả thuyết này.

Chính giả thuyết sau cùng đã xâu xé vị linh mục nhiệt thành. Vụ này có thể do ma quỉ sắp đặt. Cha Ferreira rùng mình mỗi khi nghĩ đến giả thuyết này. Xin Thiên Chúa gìn giữ những đứa trẻ bé nhỏ yêu quí, gia đình chúng, và giáo xứ khỏi tai ương này! Tại sao, ồ tại sao thế này, hơn mọi giải thích khả dĩ khác, giả thuyết này có vẻ đúng nhất đối với cha Ferreira? Ngài ghê tởm ý nghĩ đó, nhưng đã suy nghĩ cân nhắc mọi giả thuyết, thì giả thuyết này luôn luôn nặng cân.

Từ thâm sâu tâm hồn linh mục, cha Ferreira thì thầm: “Ôi, lạy Đức Trinh Nữ Rất Thánh, xin cứu những trẻ thơ ngây và mọi tín hữu của con khỏi số phận đáng sợ này! Nhưng nếu đây là việc làm của ma quỉ, xin soi sáng cho con để con khám phá ra được và phơi bày ra ánh sáng kẻ là cha sự dối trá lừa đảo.”

Thở dài nặng nề, cha Ferreira chỗi dậy khỏi bàn quỳ, bái gối, và liếc nhìn tôn kính vào Nhà Chầu lần chót. Rồi, can đảm và với dáng điệu của người có chủ định, ngài rời khỏi thánh đường đi về nhà.

Khi cửa mở, cha Ferreira bước vào, tim Lúcia như nhảy tung lên. Vị linh mục có thân hình lực lưỡng, vai rộng, mặt vuông, tóc râu rậm đen, nhưng không có vẻ gì cứng cỏi nghiêm khắc nơi vóc dáng của ngài. Trái lại, ngài có cử chỉ nhẹ nhàng, nhã nhặn, đặc biệt sáng nay nụ cười thân ái làm cho khuôn mặt ngài rạng rỡ khi chào hai người khách. Lập tức Lúcia cảm thấy nhẹ nhõm. Bằng một cử chỉ lịch sự, cha sở mời Lúcia và mẹ cô bé vào văn phòng. Mời bà Maria Rosa ngồi trên ghế dài, còn ngài ngồi nơi bàn giấy và gọi Lúcia tới bên cạnh. Thấy cô bé có vẻ nhút nhát và bối rối, ngài hỏi cô bé cách hết sức từ tốn và nhân từ. Vốn quen với cách đối xử cộc cằn, Lúcia cảm động vì lòng khoan dung cao cả của cha sở. Bầu không khí vừa nghiêm trang vừa khoan hòa. Hết câu hỏi này đến câu hỏi khác được đặt ra với cô bé. Nhiều câu hỏi cố tình làm cho Lúcia sa bẫy nếu cô bé nói láo. Nhưng Lúcia trả lời hết sức ngay thật, các lời cô bé nói không chút đối chọi hoặc sai trệch. Cha sở không thấy cô bé có lợi khẩu, nhưng ít nhất ngài phải nhìn nhận cô bé không hề đắn đo dối trá.

Tuy nhiên, bà Maria Rosa vẫn bất đồng ý kiến. Thấy cha sở như hoàn toàn có thiện cảm với Lúcia, bà lên tiếng phản đối:

“Ồ, thưa Cha Bề Trên (O Senhor Prior), những gì con nhỏ này nói đều không thực đâu. Hoàn toàn nói láo. Con đã cố gắng bắt nó nhìn nhận điều đó, nhưng mọi cố gắng của con đều vô ích.”

Rồi bà Maria Rosa nói tiếp, thẳng với con gái: “Nào, Lúcia, con hãy thú nhận với cha sở đó là điều nói láo đi.”

Nhưng cô bé thẳng thắn trả lời: “Nhưng con không thể nói đó là điều nói láo, nếu đó không phải là điều nói láo.”

“Thưa cha sở, cha coi đó, nó cứng đầu làm sao. Con đã hăm dọa nó đủ cách mà nó cứ tiếp tục nói láo và nói đã thấy Đức Mẹ, nhưng con chẳng làm gì được nó.”

Cha sở nói, cố trấn an người đàn bà lúc này đã mất bình tĩnh:

“Nào, nào, xin bà cứ từ từ, nếu những điều Lúcia nói là thực thì vinh dự lớn lao cho bé và gia đình.”

Bà Maria Rosa vội chụp lấy cơ hội, nói: “A, vâng, nếu đó là sực thực, nhưng nếu đó là điều nói láo, nếu như đó là điều nói láo thì sao?”

“Được, tôi muốn bà đối xử với con gái của bà như bà thường làm trước khi có những việc này xảy ra cho tới khi nào chứng minh được đó là điều nói láo.”

Tới đây cha sở để hai mẹ con bà Maria Rosa ra về.

Mẹ Maria: