GIA ĐÌNH THÁNH TÂM

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Hội Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Hội Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

YOUCAT VIỆT NAM ĐÃ CHÀO ĐỜI 9/14/2013


  YouCat là viết tắt của tiếng Anh Youth Catechism, giáo lý cho người trẻ , bản gốc được soạn bằng tiếng Đức, rồi được chuyển dịch sang các tiếng Anh, Ý, Pháp, Tây Ban Nha… và Việt Nam.

Nguồn gốc và chủ đích đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI trình bày tóm tắt trong Bài Tựa in ở đầu sách YouCat. Tôi đã viết hai bài giời thiệu, bạn đọc có thể xem ở Google :

- YouCat Sách Giáo lý hiện đại nhất của Giáo hội Công giáo
- Tại sao tôi giới thiệu và chuyển dịch toàn bộ YouCat

Tuy nhiên, vào Ngày Giới Trẻ Thế Giới (World Youth Day, WYD) ở Rio bên Brasil 2013, Đức Hồng Y Schönborn người Áo, đứng đầu soạn YouCat, đã có mặt tham dự; và Tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội có Nhu Cầu ( Aid of Churches in Needs, ACN) đã có cuộc phỏng vấn Đức Hồng Y ngày 31- 7- 2013, về nguồn gốc YouCat và ảnh hưởng của YouCat đối với giới trẻ. Đức Hồng Y đã cộng tác với Đức Hồng Y Ratzinger để soạn cuốn Giáo lý Giáo hội Công giáo (GLGHCG lớn), rồi lại cộng tác để soạn cả cuốn Toát Yếu của Sách GLGHCG, và còn đứng đầu soạn YouCat, nên đã cho biết thêm những chi tiết lý thú chưa được biết về nguồn gốc và ảnh hưởng thăng tiến của YouCat tại WYD . Những chi tiết này làm tăng giá trị và ảnh hưởng của YouCat đối với giới trẻ, giúp ta càng hiểu biết và đánh giá YouCat đúng mức hơn.





1. YouCat đã chào đời thế nào? 
Đã ảnh hưởng thăng tiến đối với giới trẻ tại WYD thế nào?

Đó là câu hỏi mà ACN bên Đức nêu lên cho Đức Hồng Y. Nói đến YouCat không thể không nói đến WYD vì do WYD mà có YouCat.

1.1 Về WYD

Năm 1984 dịp kết thúc Năm Thánh kỷ niệm 1950 năm Ơn Cứu Độ, Đức Gioan Phaolô II đã kêu gọi giới trẻ đến Rôma cử hành Ngày Gặp Gỡ Giới Trẻ Thế Giới tại Công trường Thánh Phêrô. Dịp này, ngài đã trao cho giới trẻ cây Thánh Giá, biểu tượng cho WYD. Ước tính có 300 ngàn người trẻ tham dự. Năm sau, Liên Hợp Quốc tuyên bố năm 1985 là Năm Quốc Tế Giới Trẻ. Vào tháng 3 năm 1985 Đức Gioan Phaolô II lại tổ chức cho giới trẻ họp mặt tại Rôma, trong đó ngài thiết lập WYD. Lần này có 450 ngàn người trẻ dự. Ngài quyết định hàng năm cử hành WYD trong các giáo phận vào lễ Lá; và cứ 2 hoặc 3 năm, một thành phố được chọn để tổ chức WYD. Trong những ngày họp mặt này, giới trẻ được dịp học hỏi giáo lý, trình bày chứng từ, chia sẻ kinh nghiệm sống, dâng thánh lễ, cầu nguyện, xưng tội, đi Đường Thánh Giá… WYD đã được tổ chức trong các năm sau đây, mỗi năm một thành phố, có một chủ đề, có số tham dự :


ST
NĂM
NƠI
CHỦ ĐỀ
SỐ
THAM DỰ
1
1986
Rôma
1Pr.3, 15      Hãy sẵn sàng cho ai chất vấn.

1 triệu
2
1987
B.Aires, Argent.
1Gn.4, 16    Ta đã biết tình yêu Chúa.

400 ngàn
3
1980
Tây Ban Nha
Gn 14, 6      Thầy là con đường, sự thật, sự sống.

1 triệu
4
1991
Ba Lan
Rm 8, 15     Anh em đã nhận Thần Khí và nên nghĩa tử.

500 ngàn
5
1993
Denver, Mỹ
Gn 10, 10    Tôi đến để chiên được sống.

4 triệu
6
1995
Manila, Philip.
Gn 1, 20, 21 Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em..

1,2 triệu
7
1997
Paris, Pháp
Gn 1, 38, 39 Thưa Thầy, Thầy ở đâu ? Đến mà xem

2 triệu
8
2000
Rôma
Gn 1, 14       Ngôi Lời đã trở nên người phàm.

800 ngàn
9
2002
Toronto, Canada
Mt 5, 13.14  Anh em là muối, là ánh sáng.

1,2 triệu
10
2005
Cologne, Đức
Mt 2, 2        Chúng tôi đến bái lạy Người.

450 ngàn
11
2008
Sydney, Úc
Cv 1, 8        Anh em sẽ nhận Thánh Thần và là    chứng nhân.

2 triệu
12
2011
Madrid, TBN
Cl 2, 7         Hãy bén rễ sâu và xây dựng trên Đức Kitô.

3 triệu
13
2013
Rio Jan, Brasil
Mt 28, 19    Hãy làm cho muôn dân thành môn đệ.

455 ngàn
14
2016
Cracow, Ba Lan



Những chủ đề và số người trẻ tham dự WYD đủ làm cho ta nhận ra ảnh hưởng hấp dẫn và thăng tiến đối với giới trẻ. Chính vì thế mà đức Bênêđictô XVI đã chia sẻ trong Thư ở đầu YouCat, và Đức Hồng Y Schönborn cũng cho biết thêm chi tiết như sau :

1.2 Về YouCat

Ngay từ thập niên 1980 đã có một số người có can đảm lo soạn một Sách Giáo lý để phổ biến giáo huấn của Công đồng Vatican II (ám chỉ Đức Gioan Phaolô II, Đức Hồng Y Ratzinger, Đức Giám Mục Schönborn). Mặc dầu ta đã biết là sau Công đồng, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI có nói rằng các văn kiện của Công đồng Vatican II đã là một cuốn giáo lý đầy đủ rồi, chỉ cần soạn một “Chỉ dẫn tổng quát trong việc huấn giáo thôi” (1971). Thế nhưng, năm 1985, Đức Gioan Phaolô II mở THĐGM đặc biệt để duyệt lại việc thực thi giáo huấn của Công đồng, thì các nghị phụ đều đồng thanh yêu cầu cần phải soạn sách giáo lý để phổ biến giáo huấn của Công Đồng. Năm sau, Đức Gioan Phaolô II đã quyết định thực hiện đề nghị, và trao cho Đức Hồng Y Ratzinger đứng đầu đảm nhiệm, cùng với 12 Hồng Y Giám Mục, Linh mục, có Đức Hồng Y Schönborn làm thư ký biên soạn. Chính Đức Hồng Y Schönborn cho biết là lúc đó Đức Hồng Y Ratzinger đã nghi ngờ rất lớn (giant doubts) về việc hoàn thành Sách GLGHCG (Sách lớn). Tuy nhiên, sau 7 năm làm việc, sách GLGHCG đã chào đời (1992) được Đức Ratzinger coi là một phép lạ. Nhưng sách dày 685 trang, gồm 2865 đoạn (paragraph), lại nặng, dễ nằm trong thư viện để nghiên cứu tham khảo hơn ; và người thường cũng như giới trẻ khó hiểu được, vì dùng nhiều ngôn ngữ trừu tượng của thần học kinh viện, như : yếu tính, bản thể, bản chất, mô thức, chất thể, biến thể… Năm 2002, Hội nghị Quốc tế về Giáo lý đã trình lên Đức Gioan Phaolô II đề nghị soạn Sách Toát yếu của GLGHCG. Đức Gioan Phaolô II nhờ đức Hồng y Ratzinger đứng đầu soạn, với sự cộng tác của đức Schönborn. Sách chào đời năm 2005, được rút ngắn lại, từ 2865 đoạn chỉ còn 598 câu hỏi thưa, 22 trích dẫn và 16 hình ảnh minh họa, nhưng ngôn ngữ vẫn y nguyên như GLGHCG, chung cho mọi người, không thích nghi với giới nào. Đến đời đức Bênêdictô XVI, qua việc tham dự những WYD ở Rôma (1886), Toronto (2002), Cologne (2005), Sydney (2008), ngài đã chứng kiến các người trẻ khắp nơi trên thế giới gặp nhau, họ là những người muốn tin, những người đang tìm kiếm Thiên Chúa, yêu mến Chúa Kitô, và muốn bước theo con đường của Người. Trong bối cảnh đó, ngài tự hỏi có cần phải tìm cách viết lại sách GLGHCG bằng ngôn ngữ thích hợp với người trẻ để làm cho sứ điệp Tin Mừng thấm nhập thế giới hôm nay chăng? Rồi Đức Bênêđictô XVI quyết định soạn lại Sách Toát yếu GLGHCG sao cho người trẻ thời hiện đại có thể hiểu được. Ngài trao cho đức Hồng y Schönborn đảm nhận, và chính đức Hồng y cho biết Đức Bênêđictô XVI cũng vẫn lo ngại như khi ngài soạn Sách GLGHCG, đó là không biết có hoàn thành được một sách mà Đức Gioan Phaolô II mơ ước để giúp Tân Phúc Âm Hóa cùng với giới trẻ, cho giới trẻ và qua giới trẻ không. Cuối cùng sau 5 năm làm việc với 70 bạn trẻ, YouCat đã chào đời bằng tiếng Đức, được dịch ra tiếng Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha, vào dịp WYD ở Madrid năm 2011. Đức Bênêđictô XVI phải thú thực rằng đối với ngài đây là một phép lạ. YouCat thu ngắn sách Toát yếu GLGHCG từ 598 câu hỏi thưa chỉ còn 527 câu hỏi thưa, nhưng có 450 câu giải nghĩa đặc biệt và 829 chứng từ, ở cuối sách còn có Mục lục gồm 630 từ then chốt và 111 định nghĩa để tra cứu và học hỏi. Đức Hồng y Schönborn cũng cho biết Đức Giáo hoàng ước mong YouCat được trao tay cho các bạn trẻ tham dự WYD ở Madrid. Thế là nhờ tổ chức ACN bên Đức tài trợ, 1 triệu YouCat đã được phát không ở Madrid; và trong WYD ở Rio bên Brasil thì đã có 1,5 triệu YouCat được trao tặng như vậy (mở Google: Cardinal Schönborn).

2. YouCat Việt Nam đã chào đời thế nào?

YouCat xuất hiện vào WYD ở Madrid năm 2011. Tôi đọc tin trong Hiệp thông và biết trong mỗi balô tặng người trẻ tham dự có cuốn YouCat; và cũng có tin Ban Giáo lý đang dịch sang tiếng Việt. Đang khi chờ bản dịch, tôi nhờ quý cha Cần Thơ mượn cho tôi cuốn YouCat, may mắn có cha cho mượn cuốn YouCat Anh để xem trong vài tuần. Đọc vội xong tôi rất thích thú và quyết tâm phải có một cuốn để nghiên cứu kỹ lưỡng hơn. Tôi nhờ một bạn bên Pháp giúp. Họ mua cho tôi cuốn YouCat Pháp và gửi bưu điện về: sách 16 Eurô và bưu phí 6 Eurô. Tôi đọc cẩn thận để nghiên cứu nội dung và cách trình bày xem đâu là tính cách “khác thường đặc biệt” mà Đức Bênêđictô XVI đã giới thiệu trong bài tựa. Tôi nhận thấy từ cách chọn chủ đề, trình bày theo lối hỏi thưa đến cách giải nghĩa và nhất là chọn những chứng từ và trích dẫn cụ thể, đa dạng để minh hoạ đều cố gắng cho phù hợp với giới trẻ và thời hiện đại. Tôi rất tâm đắc và mong chờ YouCat Việt Nam chào đời.

2.1. YouCat Việt Nam được giới thiệu và chuyển dịch toàn bộ.

Khi Đức Bênêđictô XVI mở Năm Đức Tin, phong trào học hỏi giáo lý đươc phát động mạnh mẽ. Ở thành phố Cần Thơ, có nhiều sinh viên đến trọ học, cha phụ trách sinh viên đã rút trong Internet, phần I của Youcat về Tôi tin, đươc dịch ra tiếng Việt, để giúp học giáo lý. Nhưng chỉ dịch câu hỏi thưa mà bỏ các phần khác. Ngài có cho tôi một tập, tôi mừng vì YouCat đươc chọn để học, nhưng tôi đã đề nghị với ngài để tôi dịch toàn bộ cho sinh viên học thì mới bõ công. Vì tôi thấy Sách Giáo lý giúp sống đức tin mà chỉ có giáo lý hỏi thưa, không được minh họa bởi những chứng từ và trích dẫn đã được sống và hiểu của nhiều người ở mọi thời mọi nơi, thì nó giống như bộ xương với những suy nghĩ trừu tượng khô khan, xa rời đời sống. Sách Giáo lý phải sống động như sách Tin Mừng thì mới hấp dẫn người trẻ, bỏ các chứng từ và trích dẫn là những trải nghiệm đã sống đạo thì còn gì nữa đâu, công lao của những người soạn, đã phải đọc sách, tìm tòi chọn lựa cho phù hợp, sẽ trở thành công dã tràng. May mắn Cha phụ trách đã đồng ý và nhiệt tình cộng tác với tôi để nhờ các sinh viên đánh máy, in ấn để tôi sửa chữa, làm được phần nào liền đem vào Internet để phổ biến cho mọi người sử dụng cho đến khi xong toàn bộ. Ngoài ra ở thời @ hiện đại, hình ảnh có tác động nhiều khi hơn là ngôn ngữ, nên YouCat Việtnam có xen vào nhiều hình ảnh mẫu phù hợp với chủ đề và với Việt Nam.

Một hôm ăn cơm trưa xong ở Nhà Hưu, tôi chưa kịp đứng lên, có một cô gái trẻ đến hỏi: Thưa cha, cha có phải là Antôn Nguyễn Mạnh Đồng không? Tôi trả lời: phải, tôi là cha Antôn Đồng. Rồi cô nói tiếp: con đọc YouCat Việt mà cha mới dịch thấy hay quá. Tôi sửng sốt và muốn hỏi thì cô đã đi mất hút vào đám đông đang bê chén đĩa xuống bếp. Về sau tôi mới hỏi Sơ đang làm việc ở Nhà Hưu thì biết đó là cô Th. đệ tử dòng Con Đức Mẹ, cô đang học ở gần đây, trưa mai cô còn ghé. Hôm sau tôi được gặp và nói: Hôm qua cô tự động đến hỏi tôi và tôi trả lời xong thì cô đi mất, tôi muốn hỏi thêm rằng cô đọc YouCat Việt thấy nó hay ở chỗ nào? Cô liền vui vẻ trả lời: “con thấy nó gần gũi với con, đọc dễ hiểu và hấp dẫn”. Cô làm tôi sửng sốt, rồi tôi nói với cô: tôi đã có dịp hỏi nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân trẻ đã đọc YouCat Việt và tôi chỉ nghe trả lời là thấy nó mới mẻ và hấp dẫn. Đây là lần đầu tiên được nghe câu trả lời khác như vậy. Giá mà đức Bênêđictô XVI được nghe cô gái trẻ Việt Nam nói về YouCat như vậy, chắc ngài không còn phải hồ nghi về giá trị của YouCat nữa…

2.2 Youcat Việt Nam chuẩn bị vào đời
Dịch xong toàn bộ YouCat, chúng tôi phải sửa chữa bản văn cho thống nhất, rồi tìm hình ảnh minh họa phù hợp với người trẻ Việt Nam, đồng thời thực hiện những thủ tục in ấn. Tôi đã gởi email xin phép nhà xuất bản du Cerf, Paris để dịch từ YouCat Pháp. Họ bảo tôi phải xin phép nhà xuất bản gốc bên Đức. Tôi lại gởi email xin phép bên Đức, lâu cả tháng mới được trả lời vì họ đi nghỉ hè, họ đã vui vẻ chấp nhận với các điều kiện: phải dịch trung thực toàn bộ, phải có Nihil Obstat và Imprimatur của giám mục, phải trả tiền bản quyền mỗi cuốn là 8%. Tôi đã nhờ nhóm YouViCa (Youth Việtnam CầnThơ) gồm vài cha và cựu chủng sinh Cần Thơ lo thủ tục. Đức giám mục Cần Thơ đã ký cho Imprimatur rồi bảo phải báo cho Đức Cha bên Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, vì là sách giáo lý. Tôi lại viết thư báo cho Đức Cha Phaolô Đọc, ngài vui vẻ dùng điện thoại cám ơn và bảo phải báo cho các giáo phận khác biết tin có YouCat Việt . Rồi YouViCa trình lên Đức Hồng Y G.B Phạm Minh Mẫn, ngài cũng vui mừng dùng điện thoại cám ơn và còn viết mấy lời đăng trong tờ gấp để quảng cáo YouCat Việt Nam, đồng thời đăng ký in nhiều ngàn cuốn để lo cho giới trẻ di dân. YouViCa liên lạc với các Tòa Giám Mục, và như tôi biết Tòa Giám Mục Bắc Ninh, Hải Phòng đã đăng ký chia sẻ… Thế là có thể in nhiều cuốn, giá thành mỗi cuốn chắc sẽ rẻ. Tôi phải kiếm tiền để in khoảng một ngàn cuốn cho giới trẻ Cần Thơ. Nghĩ đến YouCat được tổ chức ACN tài trợ, in cả triệu cuốn phát không cho giới trẻ tham dự WYD 2011 ở Madrid, nhất là mới đây ACN còn tài trợ in 1,5 triệu cuốn phát không dịp WYD 2013 ở Brasil, tôi ngỏ ý với mấy cựu chủng sinh Chủng viện Cần Thơ đang ở Mỹ, một anh đã sẵn lòng tài trợ 1 ngàn đô; còn cựu chủng sinh Cần Thơ ở Việt Nam có một anh cũng vui lòng tài trợ 10 triệu đồng. Thế là đủ tiền để hợp đồng với Nhà Thiện Bản Saint-Paul ở Nhà thờ Đức Bà Saigon, tiến hành việc xin phép in ấn. Việc chuyển dịch toàn bộ YouCat gồm cả Mục lục có 630 từ then chốt và 111 định nghĩa đã xong, còn hình ảnh tôi chỉ đưa ra đường lối là phải minh họa cho giáo huấn vừa đúng vừa phù hợp với người trẻ Việt Nam. Tôi trao tất cả tiền tài trợ, việc chọn và sắp xếp hình ảnh, in ấn phát hành, quản lý, cho nhóm YouViCa cùng với Nhà Thiện Bản Saint-Paul lo liệu.

Để kết.

YouCat Việt Nam đã chào đời muộn hơn YouCat hai năm. Từ khi quyết định giới thiệu rồi chuyển dịch toàn bộ YouCat sang tiếng Việt vào đầu năm 2013, tôi đã làm việc trong hơn sáu tháng không liên tục, vì có xen lẫn những ngày phải nghỉ ngơi hoàn toàn trên giường ( repos complet au lit) do lệnh của bác sĩ vì huyết áp lên cao. Nay YouCat Việt Nam đã được phát hành trên toàn quốc, tôi có cảm tưởng như đây là một sự lạ. Tôi đã cố gắng chuyển ý cho thật trung thực với bản YouCat Pháp , nhưng biết chắc không thể tránh khỏi những sai sót. Đối với giới trẻ Việt Nam, tôi đã phải thêm phần dẫn nhập chung để nêu bật tính cách khác thường đặc biệt trong nội dung cũng như trong cách soạn thảo. Trước mỗi phần, tôi còn thêm một dẫn nhập, giúp các bạn trẻ có cái nhìn tổng hợp và hữu cơ về toàn bộ giáo lý. Đó là những điều mà YouCat gốc không có. Ngoài ra YouCat gốc đã cố gắng trích dẫn được hai tác giả Á Đông là ông Gandhi (Ấn Độ), và Lữ Bất Vi (Tàu), tôi thấy ít quá, tôi chọn thêm 3 tác giả Tàu ( Khổng Tử, Lão Tử, Mặc Tử) và 13 trích dẫn của nhiều tác giả Việt Nam (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, ca dao, châm ngôn …). Tôi cũng tiếc là chưa kịp đem vào những chứng từ sống đạo rất sâu sắc thời các vị truyền giáo và các Thánh Tử đạo Việt Nam, chẳng hạn như việc “người lương dân gọi bổn đạo là những người theo đạo yêu nhau” (1692). Hoặc như chuyện của Thánh Anê Lê Thị Thành ( Bà Thánh Đê) 1841, bà bị tù và đánh đập tàn bạo đến nỗi thân mình đầy máu me, bà vẫn vui vẻ và còn muốn chịu khó hơn nữa. Cô Luxia Nụ là con gái út đến thăm mẹ trong ngục, thấy áo xống loang lổ máu, cô khóc nức nở. Bà an ủi rằng : “ Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy. Mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc.” Ngoài ra tôi thấy lịch sử Giáo Hội toàn cầu cũng như lịch sử Giáo Hội Việt Nam cũng đầy dẫy những chứng từ hùng hồn về việc Kitô hữu toàn cầu cũng như ở Việt Nam đã sống đạo làm chứng cho Tin Mừng của Chúa Giêsu trong mọi hoàn cảnh lịch sử thuận lợi cũng như khó khăn, rất ích lợi để giúp sống đạo trong hoàn cảnh hôm nay. Sau hết, tôi hy vọng với góp ý của độc giả, YouCat Việt Nam sẽ hoàn chỉnh hơn góp phần đắc lực phục vụ cho công việc Tân Phúc Âm hóa.

Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng
Nhà Hưu Dưỡng Linh mục Cần Thơ
15 – 9 – 2013

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

Mật nghị Hồng Y bầu Giáo Hoàng sẽ bắt đầu ngày 12-3-2013




VATICAN. Chiều ngày 8-3-2013, Hồng y đoàn đã bỏ phiếu quyết định bắt đầu mật nghị từ ngày thứ ba 12-3-2013 để bầu Giáo Hoàng mới.

Quyết định trên đây được các Hồng y thông qua trong phiên họp toàn thể thứ 9 từ lúc 17 đến 19 giờ chiều thứ sáu vừa qua.

Sáng ngày 12-3, sẽ có thánh lễ xin ơn Chúa Thánh Thần tại Đền thờ Thánh Phêrô để cầu cho việc bầu Giáo Hoàng, ban chiều các Hồng Y sẽ tiến vào Nhà Nguyện Sistina và bắt đầu cuộc bỏ phiếu.

115 Hồng y cử tri sẽ bốc thăm để nhận phòng tại Nhà Trọ Thánh Marta ở nội thành Vatican. Trong thời gian mật nghị, các HY không được tiếp xúc với bên ngoài bằng bất kỳ phương tiện nào, và cũng không được theo dõi tin tức qua báo chí hoặc các phương tiện truyền thông khác.

Ngôi nhà 5 tầng này cũng sẽ được bao phủ bằng hệ thống phá sóng để ngăn chặn việc sử dụng điện thoại di động.

Tất cả các chức sắc và nhân viên phục vụ tại Nhà Trọ thánh Marta, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đều phải tuyên thệ giữ bí mật về những gì liên quan đến việc bầu Giáo Hoàng. Trong số các nhân viên này có 2 bác sĩ, y tá, những người làm bếp và dọn bàn, vệ sinh, những người coi nhà thánh, chuyên viên kỹ thuật. Ngoài ra có vị Tổng thư ký Hồng y đoàn là Đức TGM Lorenzo Baldisseri, cũng là Tổng thư ký Bộ GM, và Đức Ông Guido Marini, Trưởng Ban nghi lễ phụng vụ của ĐGH.

Danh sách những chức sắc và nhân viên trên đây được ĐHY nhiếp chính Tarcisio Bertone và 3 HY Phụ tá phê chuẩn, chiếu theo Tông Hiến “Mục tử toàn thể đoàn chiên Chúa”. Sau khi đọc lời tuyên thệ giữ bí mật về mật nghị bầu Giáo Hoàng, đương sự phải ký tên vào bản tuyên thệ trước mặt ĐHY nhiếp chính và hai chức sắc về nghi lễ của Tòa Thánh.

Cách đây 8 năm, Hồng đoàn đã nhóm 12 phiên họp trước khi bắt đầu mật nghị Hồng Y bầu Giáo Hoàng. Phiên nhóm cuối cùng diễn ra ngày 16-4-2005 và mật nghị bầu cử bắt đầu sáng ngày 18-4-2005 với thánh lễ lúc 10 giờ sáng tại Đền thờ Thánh Phêrô để cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Ban chiều cùng ngày các Hồng y cử tri tề tựu tại Nhà nguyện Paolina trong dinh Tông Tòa và đi rước vào Nhà nguyện Sistina.

Đến chiều ngày 19-4-2005, ĐHY Joseph Ratzinger đắc cử và trở thành vị Giáo Hoàng thứ 265 trong lịch sử Giáo Hội.

G. Trần Đức Anh OP

(Nguồn: R. Vatican)

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Con thuyền Giáo Hội là của Chúa. Người luôn điều khiển và không để nó chìm




Con thuyền Giáo Hội không phải của tôi, không phải của chúng ta, nhưng là của Chúa, và Người không để cho nó chìm. Chính Chúa điều khiển nó, chắc chắn cả qua các người mà Người đã chọn, bởi vì Người đã muốn như thế. Thiên Chúa hướng dẫn giáo Hội, Người luôn đỡ nâng Giáo Hội nhất là trong những lúc khó khăn. Người luôn ở gần chúng ta, Người không bỏ rơi chúng ta, Người ở gần chúng ta và bao bọc chúng ta với tình yêu của Người. Chúng ta đừng bao giờ mất đi quan niệm đức tin này, là quan niệm duy nhất đích thật của con đường của Giáo Hội và của thế giới.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói như trên với 170.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung cuối cùng của ngài tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 27-2-2013. Thật thế, buổi tiếp kiến sáng 27-2-2013 đã là buổi gặp gỡ cuối cùng với Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong triều đại của ngài, vì vào lúc 20 giờ tối thứ năm 28-2-2013 giờ Roma, Đức Thánh Cha kết thúc nhiệm vụ giáo hoàng. Tông Tòa sẽ trống ngôi, và trong vài ngày nữa, có thể là thứ hai tuần tới đây Đức Hồng Y Nhiếp Chính sẽ chủ sự buổi họp của Hồng Y Đoàn để quyết định ngày khai mạc Mật Nghị Hồng Y bầu Giáo Hoàng mới.

Đáng lý ra trong mùa này buổi tiếp kiến sáng thứ tư diễn ra trong đại thính đường Phaolô VI, nhưng để nhiều tín hữu có thể tham dự buổi gặp gỡ vị Cha chung lần cuối cùng, buổi tiếp kiến đã được tổ chức tại quảng trường thánh Phêrô. Trời Roma trong xanh có nắng ấm rất đẹp, như thể mùa xuân đã bắt đầu. Ngay từ 5 giờ sáng, hàng trăm xe buýt chở các đoàn hành hương từ các giáo phận Italia hay từ các nước khác đã đổ tìn hữu xuống quanh quảng trường thánh Phêrô, để mọi người xếp hàng đi qua các trạm kiểm soát diện tử vào quảng trường. Phủ giáo hoàng đã phân phát 50.000 vé, nhưng số tín hữu tham dự đã lên tới 170.000, đặc biệt có rất đông sinh viên học sinh và các bạn trẻ. Các Đại học giáo hoàng Roma đều cho sinh viên nghỉ để có thể tham dự buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha, và cùng với tín hữu khắp nơi bầy tỏ lòng yêu mến, tình liên đới, sự gắn bó gần gũi và biết ơn ngài, vì những gì Đức Thánh Cha đã cống hiến cho Giáo Hội và cho toàn thế giới trong các năm qua.

Nhiều đoàn tìn hữu mặc áo mầu đồng phục hay có mũ, khăn và cờ để dễ nhận ra nhau. Các đoàn tín hữu đã mang theo rất nhiều cờ, cờ Tòa Thánh cũng như cờ quốc gia, và nhiều biểu ngữ viết tên thành phố của họ và các câu như: ”Cám ơn Đức Thánh Cha Biển Đức XVI”, ”Ngài luôn luôn là Phêrô và giới trẻ chúng con yêu mến ngài”, ”Thưa Đức Thánh Cha, chúng con yêu mến ngài”, ”Chúng con gần gũi ngài”, ”Luôn luôn với Đức Giáo Hoàng”, ”Cảm ơn Đức Thánh Cha nhiều lắm” vv...

Sau khi bắt đầu triều đại giáo hoàng của mình Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã có buổi tiếp kiến chung lần đầu tiên ngày 27 tháng 4 năm 2005. Trong gần 8 năm làm Giáo Hoàng ngài đã có 348 buổi tiếp kiến chung với 5.116.600 tín hữu tham dự. Số tín hữu tham dự đông nhất là vào năm 2006 với 45 buổi tiếp kiến và 1.031.500 người. Trong năm đầu đã có 32 buổi tiếp kiến với 810.000 người tham dự. Các năm khác đã có từ 42 tới tới 45 buổi tiếp kiến với con số tham dự xê xích từ 447.000 tới 729.000 người.

Riêng cho buổi tiếp kiến lịch sử sáng thứ tư 27-2-2013, ban kỹ thuật Tòa Thánh đã dựng thêm 4 màn truyền hình khổng lồ khác để cho các tín hữu đứng ở đường Hòa Giải cũng có thể theo dõi. Hiên diện trong buổi tiếp kiến cuồi cùng sáng 27-2 ngoài khoảng 70 Hồng Y, hàng chục Tổng Giám Mục, Giám Mục, các Đức Ông thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh, hàng ngàn Linh Mục tu sĩ nam nữ các dòng tu và các trường quốc tế, ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, còn có Đại quận công thừa kế Guillaume nước Luxembourg, tổng thống Slovac Ivan Gasparovic và phái đoàn, ông Horst Seehofer, thống đốc bang Bavière Nam Đức và phái đoàn, ông Renato Balduzzi Bộ trưởng Y tế Italia, ông Jorge Fernandez Diaz, Bộ trưởng Nội vụ Tây Ban Nha, chị Maria Voce, lãnh đạo phong trào Tổ Ấm, Anh Kiko Argello, lãnh đạo phong trào Con đường tna dự tòng, thầy Alois Đan viên trưởng Đan viện đại kết Taizé vv...

Đã có hàng chục đoàn hành hương giáo phận Italia do chính các Tổng Giám Mục và Giám Mục hướng dẫn. Trong các phái đoàn hiện diện củng có một nhóm tín hữu Việt Nam từ Đức.

Trong buổi tiếp kiến hôm qua đã không có nghi thức hôn tay Đức Giáo Hoàng như thường lệ. Nhưng sau đó tại phòng Clemente một só nhân vật quan trọng có thể đến chào Đức Thánh Cha và hôn tay ngài.

Trong suốt mấy tiếng đồng hồ chờ đợi Đức Thánh Cha, các sinh viên học sinh và bạn trẻ đã liên tục gọi tên Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, hát xướng và vỗ tay, trong bầu khí của lễ hội, giống như trong các Ngày Quốc Tế Giới Trẻ. Lúc 10 giờ các Đức Ông thuộc Phủ Quốc Vụ Khánh Tòa Thánh đã chào tín hữu và giới thiệu các nhóm tham dự. Khi nghe xướng tên nhóm mình tín hữu, đặc biệt là các bạn trẻ, đã hô to lên.

Lúc 10 giờ 40 xe díp trắng chở Đức Thánh Cha Biển Đức XVI xuất hiện từ phía trái Đền Thờ Thánh Phêrô giữa tiếng vỗ tay của tín hữu, những tràng pháo tay xem ra e dè hơn và đượm một nỗi buồn nào đó. Xe chở Đức Thánh Cha đi một vòng giữa các lối đi ở quảng trường để ngài chào tín hữu, trước khi lên khán đài chính giữa thềm đền thờ thánh Phêrô.

Sau khi Đức Thánh Cha làm dấu thánh giá khai mạc buổi tiếp kiến, các Đức Ông thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã đọc bài Sách Thánh trích từ chương 1 thư thánh Phaolô gửi tín hữu Côlôxê, bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.

Mở đầu bài huấn dụ Đức Thánh Cha cám ơn tín hữu đã đến đông đảo như vậy để tham dự buổi tiếp kiến cuối cùng trong triều đại giáo hoàng của ngài. Đức Thánh Cha nói: ”Như tông đồ Phaolô trong văn bản Kinh thánh chúng ta vừa nghe, tôi cũng cảm thấy trong tim tôi nhất là phải cám ơn Thiên chúa, là Đấng dẫn dắt và làm cho Giáo Hội lớn lên, là Đấng gieo vãi Lời Người và như thế đưỡng nuôi đức tin Dân Người. Trong lúc này đây tâm hồn tôi nới rộng ra để ôm trong vòng tay toàn thể Giáo Hội rải rác trên thế giới; và tôi cảm tạ Thiên Chúa vì các ”tin tức”, mà trong các năm này của sứ vụ Phêrô tôi đã có thể nhận được liên quan tới niềm tin nơi Chúa Giêsu Kitô, và về tình bác ái luân lưu trong Thân Mình của Giáo Hội và khiến cho nó sống trong tình yêu và niềm hy vọng, rộng mở chúng ta và hướng chúng ta tới cuộc sống tràn đầy, tới quê hương trên Trời. Tôi cảm thấy mình mang tất cả mọi người trong lời cầu nguyện, trong một hiện tại là hiện tại của Thiên Chúa, nơi tôi tiếp nhận mọi cuộc gặp gỡ, mọi chuyến du hành và mọi cuộc viếng thăm mục vụ. Tất cả và mọi người tôi đều đón nhận trong lời cầu nguyện để tín thác cho Chúa: để chúng ta am tường thánh ý Người, với tất cả sự khôn ngoan và hiểu biết tinh thần, và để chúng ta có thể có cung cách hành xử xứng đáng với Người, với tình yêu thương của Người, bằng cách mang lại hoa trái trong mọi việc lành (Cl 1,9-10).
Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Trong lúc này đây, trong tôi có một sự tin tưởng lớn lao, bởi vi tôi biết chúng ta tất cả đều biết rằng Lời chân lý của Tin Mừng là sức mạnh của Giáo Hội, là sự sống của Giáo Hội. Tin Mừng thanh tẩy và canh tân, đem lại hoa trái, bất cứ nơi đâu cộng đoàn tín hữu biết lắng nghe và tiếp nhận ơn thánh Chúa trong chân lý và sống trong tình bác ái. Đó là sự tin tưởng của tôi, đó là niềm vui của tôi. Ngày 19 tháng Tư cách đây gần 8 năm, khi tôi đã chấp thuận lãnh nhận sứ vụ Phêrô, tôi đã có sự chắc chắn này và nó đã luôn đồng hành với tôi. Trong lúc này đây, cũng như tôi đã nói lên nhiều lần, các lời đã vang lên trong tim tôi: Lậy Chúa, Chúa xin con điều gì? Đây là một gánh nặng lớn mà Chúa đặt lên vai con, nhưng nếu Chúa xin con, thì dựa trên lời Chúa con sẽ thả lưới, chắc chắn rằng Chúa sẽ hướng dẫn con. Và Chúa đã thực sự hướng dẫn tôi, gần gũi tôi, tôi đã có thể nhận thấy hằng ngày sự hiện diện của Người.” Nhìn lại gần 8 năm triều đại giáo hoàng của người Đức Thánh Cha nói: ”Đó đã là một đoạn đường của Giáo Hội, có những lúc vui, có ánh sáng, nhưng cũng có những lúc không dễ dàng. Tôi đã cảm thấy như thánh Phêrô với các Tông Đồ trong con thuyền trên hồ Galilea: Chúa đã cho chúng ta biết bao nhiêu ngày có mặt trời và gió mát hiu hiu, những ngày trong đó đã đánh được đầy cá; nhưng cũng có những lúc trong đó nước động và gió ngược, như trong suốt lịch sử của Giáo Hội và xem ra Chúa ngủ. Nhưng tôi đã luôn luôn biết rằng trong con thuyền ấy có Chúa và tôi đã luôn luôn biết rằng con thuyền Giáo Hội không phải của tôi, không phải của chúng ta, nhưng là của Chúa, và Người không để cho nó chìm; chính Chúa điều khiển nó, chắc chắn qua cả các người mà Người đã chọn, bởi vì Người đã muốn như thế. Đây đã và hiện là một sự chắc chắn, mà không gì có thể làm lu mờ. Và chính vì thế mà hôm nay tim tôi tràn đầy sự cảm tạ Thiên Chúa, bởi vì Người đã không bao giờ để cho Giáo Hội, và cho cả tôi nữa, phải thiếu sự ủi an, ánh sáng và tình yêu của Người.”

Đề cập tới Năm Đức Tin đang tiến hành Đức Thánh Cha nói: ”Chúng ta đang ở trong Năm Đức Tin mà tôi đã muốn để củng cố đức tin của chúng ta nơi Thiên Chúa, trong một bối cảnh xem ra ngày càng đặt để lòng tin vào hàng thứ yếu. Tôi muốn mời gọi từng người cảm thấy được yêu thương bởi Thiên Chúa, là Đấng đã ban Con Người cho chúng ta và đã cho chúng ta thấy tình yêu vô biên của Người. Tôi muốn từng người cảm thấy niềm vui được là kitô hữu. Có một lời cầu đẹp cần đọc mỗi sáng nói rằng: ”Lậy Thiên Chúa của con, con thờ lậy Chúa, và con yêu mến Chúa với tất cả trái tim con. Con cảm tạ Chúa đã tạo dựng nên con, đã cho con là tín hữu kitô...”. Vâng, chúng ta hài lòng vì ơn đức tin; đó là thiện ích lớn lao nhất, mà không ai có thể lấy mất! Chúng ta cảm tạ Chúa về ơn đó mỗi ngày, với lời cầu nguyện và với một cuộc sống kitô trung thực. Thiên Chúa yêu thương chúng ta, nhưng cũng chờ đợi chúng ta yêu thương Người!”

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã cám ơn các cộng sự viên và mọi thành phần dân Chúa và nói: ”Nhưng trong lúc này tôi không chỉ muốn cảm tạ Thiên Chúa mà thôi. Một Giáo Hoàng không một mình hướng dẫn con thuyền của Phêrô, cả khi trách nhiệm đầu tiên là của người; và tôi đã không bao giờ cảm thấy cộ đơn trong việc mang niềm vui và gánh nặng của sứ vụ Phêrô. Chúa đã đặt bên canh tôi biết bao nhiêu người đã giúp đỡ và gần gũi tôi, với sự quảng đại và tình yêu thương đối với Thiên Chúa và Giáo Hội. Trước hết là anh em, các Hồng Y thân mến: sự khôn ngoan, các lời khuyên và tình bạn của anh em đã rất qúy báu đối với tôi; các cộng sự viện của tôi, bắt đầu là Quốc Vụ Khanh và tất cả các cơ quan trung ương Tòa Thánh, cũng như tất cả những người phục vụ Tòa Thánh trong các lãnh vực khác nhau,: có biết bao khuôm nặt không nổi bật, ở trong bóng tối, nhưng chính trong thinh lặng, trong sự tận tụy hằng ngày, với tinh thấn đức tin và lòng khiêm tốn, đã là một sự nâng đỡ chăc chắn và đáng tin cậy. Một tư tưởng đặc biệt tôi xin gửi tới Giáo Hội Roma, giáo phận của tôi. Tôi không thể quên các anh em trong Hội Đồng Giám Mục và Linh Mục, các người sống đời thánh hiến và toàn thể Dân Chúa: trong các chuyến viếng thăm mục vụ, trong các cuộc gặp gỡ, các buổi tiếp kiến, các chuyyến công du, tôi đã luôn luôn trực giác được sự chú ý lớn lao và lòng trìu mến sâu xa. Tôi cũng đã yêu thương tất cả và từng người một, mà không phân biệt, với tình bác ái mục tử là con tim của mọi Chủ Chăn, nhất là của Giám Mục Roma, của Người Kế Vị Tông Đồ Phêrô. Mỗi ngày tôi đã mang từng người trong anh chị em trong lời cầu nguyện của tôi, với con tim của một người cha.”

Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: ”Tôi muốn rằng lời chào và cảm ơn của tôi tới được với tất cả mọi người: trái tim của một Giáo Hoàng mở rộng ra cho toàn thế giới. Và tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi với Ngoại Giao Đoàn cạnh Tòa Thánh, khiến cho đại gia đình của các quốc gia hiện diện. Ở đây tôi cũng nghĩ tới tất cả những ai làm việc cho một sự truyền thông tốt đẹp và tôi xin cám ơn công việc phục vụ của họ. Tới đây tôi muốn thật sự hết lòng cám ơn tất cả mọi người trên thế giới trong các tuần qua đã gửi tới tôi các dấu chỉ cảm động của sự chú ý, tình bạn và lời cầu nguyện. Phải, Giáo Hoàng không bao giờ cô đơn, giờ này tôi còn cảm nghiệm được điều đó một lần nữa đánh động con tim một cách lớn lao như vậy. Giáo Hoàng thuộc về tất cả mọi người, và biết bao nhiêu người cảm thấy họ gần gũi ngài. Có đúng thật là tôi đã nhận được rất nhiều thư của các nhân vật quan trọng trên thế giới - từ các quốc trưởng các nước, từ các vị lãnh đạo tôn giáo, từ các đại diện của thế giới văn hóa vv... Nhưng tôi cũng nhận được rất nhiều thư của những người đơn sơ viết cho tôi một cách dơn sơ từ trái tim của họ, và khiến cho tôi cảm thấy lòng thương mến của họ, nảy sinh từ việc cùng nhau ở với Chúa Giêsu Kitô, trong Giáo Hội. Các người này không viết cho tôi, ví dụ như viết cho một ông hoàng hay cho một người lớn mà họ không quen biết. Họ viết cho tôi như các anh chị em hay như con cái, với ý thức về một mối dây gia đình rất yêu mến. Ở đây người ta có thể sờ mó được bằng tay Giáo Hội là gì - không phải là một tổ chức, một hiệp hội, có các mục đích tôn giáo hay nhân đạo, nhưng là một thân thể sống động, một sự hiệp thông giữa các anh chị em với nhau trong Thân Mình của Chúa Giêsu Kitô, là Đấng hiệp nhất tất cả chúng ta. Sống kinh nghiệm Giáo Hội trong kiểu này, và hầu như có thể sờ mó được bằng tay sức mạnh chân lý và tình yêu của nó, là lý do vui sướng, trong một thời đại, trong đó biết bao nhiêu người đang nói về sự suy tàn của Giáo Hội.”

Đề cập tới quyết định từ nhiệm của ngài Đức Thánh Cha Biển Đức XVI giải thích như sau: ”Trong các tháng cuối cùng này, tôi đã cảm thấy sức lực của tôi giảm sút, và trong lời cầu nguyện tôi đã nài nỉ Thiên Chúa, soi dẫn cho tôi với một ánh sáng của Người để làm cho tôi lấy một quyết định đúng đắn hơn, không phải cho thiện ích của tôi, nhưng cho thiện ích của Giáo Hội. Tôi đã đi bước này trong ý thức tràn đầy về sự nghiêm trọng và cũng mới mẻ của nó, nhưng với một sự thanh thản sâu xa trong tâm hồn. Yêu thương Giáo Hội cũng có nghĩa là can đảm có những lựa chọn khó khăn, đau khổ, nhưng luôn luôn có trước mắt thiện ích của Giáo Hội, chứ không phải của chính mình.

Ở đây xin cho phép tôi trở lại ngày 19 tháng 4 năm 2005 một lần nữa. Sự nghiêm trọng của quyết định cũng đã là ở nơi sự kiện từ lúc đó trở đi tôi đã được luôn luôn và vĩnh viễn dấn thân bởi Chúa. Luôn luôn - ai lãnh sứ vụ Phêrô thì không còn có sự tư riêng nào nữa. Người ấy luôn luôn và hoàn toàn thuộc về tất cả mọi người, thuộc về toàn thể Giáo Hội. Như thể nói rằng chiều kích riêng tư bị lấy mất khỏi cuộc sống người ấy. Tôi đã kinh nghiệm và tôi đang trải nghiệm điều đó giờ đây, rằng một người nhận lấy cuộc sống chính khi cho nó đi. Trước đây tôi đã nói rằng nhiều người yêu mến Chúa thì cũng yêu mến Người Kề Vị Thánh Phêrô và cũng trở thành trìu mến đối với ngài; rằng Giáo Hoàng thật sự có các anh chị em, con cái nam nữ trên toàn thế giới, và rằng ngài cảm thấy an toàn trong vòng tay sự hiệp thông của họ; bởi vì ngài không thuộc về chính mình nữa, nhưng thuộc về tất cả mọi người và tất cả mọi người thuộc về ngài.”

Đức Thánh Cha giải thích thêm ý nghĩa sự kiện ”luôn luôn” như sau: ”Sự ”luôn luôn” cũng là một sự ”vĩnh viễn” - không còn có việc trở lại sự riêng tư nữa. Quyết định của tôi từ bỏ việc tích cực thi hành sứ vụ không thu hồi điều này. Tôi không trở lại đời sống tư, một đời sống gồm các cuộc du hành, các cuộc gặp gỡ, tiếp kiến, diễn thuyết vv... Tôi không từ bỏ thập giá, nhưng tôi ở lại trong một cach thức mới mẻ gần Chúa bị đóng đanh. Tôi không mang quyền bính của nhiệm vụ cai quản Giáo Hội nữa, nhưng như để nói rằng trong việc phục vụ cầu nguyện tôi ở bên trong ranh giới của thánh Phêrô. Thánh Biển Đức, mà tôi mang tên như Giáo Hoàng, sẽ là gương sáng vĩ đại cho tôi trong điều này. Người đã chỉ cho chúng ta thấy con đường cho một đời sống, mà tích cực hay thụ động, hoàn toàn tùy thuộc vào công trình của Thiên Chúa.

Tôi xin cám ơn tất cả và từng người một, cả về sự tôn trọng và cảm thông mà với chúng anh chị em đã tiếp nhận quyết định quan trọng này. Tôi sẽ tiếp tục đồng hành với con đường của Giáo Hội bằng lời cầu nguyện và suy tư, với sự tận tụy đối với Chúa và Hiền Thê của Người, mà tôi đã tìm cách sống cho tới giờ này mỗi ngày, và tôi muốn sống nó luôn mãi. Tôi xin anh chị em nhớ tới tôi trước mặt Thiên Chúa, và nhất là cầu nguyện cho các Hồng Y, được mời gọi cho một nhiệm vụ lớn lao như vậy, và cho Người Kế Vị mới của Tông Đồ Phêrô: xin Chúa đồng hành cùng ngài với ánh sáng và sức mạnh của Thần Khí Người.

Chúng ta hãy khẩn nài sự bầu cử hiền mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, để Mẹ đồng hành với từng người trong chúng ta và toàn thể cộng đoàn giáo hội; Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ với lòng tin tưởng sâu xa. Các bạn thân mến! Thiên Chúa hướng dẫn giáo Hội, Người luôn đỡ nâng Giáo Hội, cả và nhất là trong những lúc khó khăn. Chúng ta đừng bao giờ mất đi quan niệm đức tin này, là quan niệm duy nhất đích thật của con đường của Giáo Hội và của thế giới. Ước chi trong con tim chúng ta, trong con tim của từng người trong chúng ta, luôn có sự chắc chắn tươi vui rằng Chúa ở gần chúng ta, Người không bỏ rơi chúng ta, Người ở gần chúng ta và bao bọc chúng ta với tình yêu của Người. Xin cám ơn anh chị em!” Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha đã bị cắt quãng nhiều lần bởi các tràng pháo tay của tín hữu.

Khi Đức Thánh Cha kết thúc bài huấn dụ, các Hồng Y và mọi người đã đứng lên vỗ tay rất lâu. Đức Thánh Cha cũng đứng lên đáp lễ. Tiếp đến Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng các thứ tiếng Phàp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, A rập, Ba Lan, Croat, Tchèques, Slovac, Rumani và tiếng Ý.

Chào các tín hữu Italia Đức Thánh Cha nói: ”Các bạn thân mến, tôi xin cám ơn sự tham dự đông đảo của các bạn trong buổi gặp gỡ này, cũng như lòng thương mến của các bạn và niềm vui của đức tin. Đó là các tâm tình mà tôi xin hết lòng đổi lại bằng cách bảo đảm với các bạn lời cầu nguyện của tôi cho các bạn hiện diện nơi đây, cũng như cho thân bằng quyến thuộc và những người thân thiết của các bạn.

Ngỏ lời với người trẻ Đức Thánh Cha xin Chúa đổ tràn đầy tình yêu của Người trong tim họ để họ sẵn sàng hăng hái theo Chúa. Đức Thánh Cha xin Chúa nâng đỡ các người đau yếu để họ chấp nhận gánh nặng của khổ đau với sự thanh thản. Và ngài xin Chúa hướng dẫn các cặp vợ chồng mới cưới biết làm cho gia đình họ lớn lên trong sự thánh thiện.

Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Lúc 11 giờ sáng thứ năm 28-2-2013 Đức Thánh Cha gặp các Hồng Y hiện diện tại Roma trong phòng Clemente để chào từ biệt các vị. Vào lúc 5 giờ chiều ngài lấy trực thăng đi Castel Gandolfo. Vào lúc 5 giờ rưỡi chiều ngài ra bao lơn dinh nghỉ mát Castel Gandolfo đễ chào tín hữu thành phố. Đây cũng là lần xuất hiện cuối cùng trong tư cách là Giáo Hoàng Roma. Vì từ lúc 8 giờ tối sau đó ngài không còn giữ chức Chủ Chăn Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ nữa. Tuy vẫn tiếp tục được gọi là Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, hay Đức Nguyên Giáo Hoàng Biển Đức XVI, hay Đức Nguyên Giáo Hoàng, nhưng Đức Ratzinger sẽ chỉ mặc áo chùng trắng, không có mảnh áo khoác ngắn trên vai, không có nhẫn Giáo Hoàng, vì nhẫn này sẽ bị phá hủy, và cũng không mang giầy mầu đỏ. Cũng từ lúc 8 giờ tối thứ năm 28-2-2013 đội cận vệ Thụy Sĩ tại Castel Gandolfo chấm dứt nhiệm vụ và giao quyền lại cho đội Hiến Binh Vaticăng. Đức Ratzinger sẽ cư ngũ tại Castel Gandolfo vài tháng trước khi về sống trong tu viện của các nữ tu dòng kín được tu sửa lại, tại nội thành Vaticăng trong thinh lặng và cầu nguyện. Cùng hiệp ý với tín hữu công giáo toàn thế giới chúng ta hãy cầu nguyện cho Đức Biển Đức XVI, cho Giáo Hội, và cho Hồng Y Đoàn sắp nhóm Mật Nghị. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng để các vị bầu vị Tân Giáo Hoàng theo ý Chúa muốn.

Linh Tiến Khải

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

ĐÔI LỜI TỪ BIỆT ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI



ĐÔI LỜI TỪ BIỆT ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI
1. Lạy Cha rất mến yêu.
Giờ phút chia ly buồn lắm và đau đớn lắm.
Cha thoái vị và ra đi, lúc đêm bắt đầu (20 giờ, ngày 28 tháng 02 năm 2013).
Từ giờ phút đó, các thánh lễ tại Việt Nam sẽ không còn đọc tên Cha nữa (Thư Chung của HĐGMVN, ngày 16.02.2013).

2. Riêng con, con luôn nhớ đến tên Cha và gọi tên Cha.
Con nhớ Cha, để cảm tạ Cha vì những ơn Cha đã làm cho con.
Cha dạy con hãy luôn gặp gỡ thân mật với Đức Kitô và hãy bước theo Đức Kitô.
Nhờ vậy, đời con chỉ phải là yêu thương, dâng hiến, trong tự do và cậy tin phó thác, theo gương Cha. Vì Cha bước theo Đức Kitô.
Chỉ có thế, đời con mới có ý nghĩa và có hướng đi đúng đường.

3. Cha ra đi, khi đã thoái vị Giáo Hoàng.
Nhưng Cha không thể từ nhiệm ơn gọi bước theo Chúa Kitô.
Tối thứ Năm đó, Đức Kitô đã một mình ra đi. Người một mình đi vào Vườn Cây Dầu.
Ở đó, Người sợ hãi xao xuyến. Người đã xin Đức Chúa Cha, nếu có thể, thì cho Người khỏi uống chén đắng đang kề.
Nhưng, sau cùng, Người đã xin vâng ý Chúa Cha. Người không từ chối trách nhiệm đớn đau, mà Chúa Cha muốn Người phải thi hành.
Người đi vào cuộc tử nạn một mình. Người vác thánh giá một mình. Người chịu đóng đinh trên thánh giá một mình giữa hai phạm nhân tử tội.
Người một mình chịu thương khó, để dâng mình đền tội cho nhân loại.
Cha đi, nếu Cha cũng sẽ được ơn gọi bước theo Đức Kitô như thế, thì thiết tưởng đó chính là một vinh quang, mà Năm Đức Tin cần tuyên xưng. Bởi vì theo đức tin, ơn cứu độ sẽ đến từ thánh giá Đức Kitô.

4. Từ nay, trong cảnh tĩnh mạc của cuộc đời hưu, Cha sẽ có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để cầu nguyện nhiều hơn.
Trong đời cầu nguyện thẳm sâu ấy, xin Cha thương nhớ đến chúng con, nhất là những đứa con đang hấp hối, quằn quại, rên xiết, trong gian nan thử thách muôn vàn.
Cha còn có chỗ, để ra đi. Còn chúng con, bao người đau khổ, chẳng có chỗ nào, để mà ra đi.

5. Khổ nhất đối với chúng con là sự ác đang tăng mạnh bao vây chúng con. Con nhớ đến lời thánh Gioan tông đồ đã cảnh báo: “Tất cả thế gian đều nằm dưới ách của Ác Thần (Ga 5,19) và “Có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4,1).
Nếu thời điểm này đang ứng nghiệm những lời cảnh báo đó của thánh Gioan tông đồ, thì chúng con là những kẻ tội lỗi yếu hèn sẽ rất bơ vơ. Xin Cha thương cầu nguyện cho chúng con.

6. Con xin gởi Cha gánh nặng của bao nỗi lòng. Nỗi lòng đau đớn nhất là thấy chính mình chúng con có thể đang là nguyên do gây cho Cha những buồn phiền, do sự chúng con sa sút về đạo đức. Có thể nhiều người chúng con đang là nỗi thất vọng cho Cha. Con xin Cha rộng lòng tha thứ.
Thưa Cha, con vẫn nhìn thấy nơi Cha khuôn mặt hiền lành và khiêm nhường của Đức Kitô. Do vậy, con tin Cha vẫn rất cần cho Hội Thánh nói chung, và cho chúng con nói riêng.
Xin từ biệt Cha.

Long Xuyên, ngày 25 tháng 02 năm 2013
+ GB. BÙI TUẦN

Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2013

Tìm hiểu Vatican



Tòa Thánh Vatican có tên chính thức Thành Quốc Vatican – Status Civitatis Vaticanae (tiếng Latin), Stato della Città del Vaticano (tiếng Ý), là một quốc gia có chủ quyền với lãnh thổ gồm một vùng đất được xây tường bao kín. Với diện tích xấp xỉ 44 hecta (108,7 mẫu Anh). Đây là quốc gia độc lập nhỏ nhất thế giới, nằm trong lòng TP Rôma (Ý quốc), quốc ca là bài “Inno e Marcia Pontificale” (tiếng Ý), nghĩa là “Quốc ca và Hành khúc Giáo hoàng”.

Quốc gia này được thành lập năm 1929 theo Hiệp ước Latêranô với tư cách là hậu thân của Quốc gia Giáo hoàng, vốn rộng lớn hơn, tồn tại từ năm 756 tới 1870 sau Công Nguyên. Vì được Giám mục Rôma (tức Giáo hoàng) điều hành nên Thành Vatican chính thức là một nền quân chủ. Các quan chức cấp cao nhất của quốc gia đều là giáo sĩ của Giáo hội Công giáo Rôma.

Đây cũng là lãnh thổ có chủ quyền của Tòa Thánh (Latinh: Sancta Sedes, Anh ngữ: Holy See) và là nơi có Điện Tông Tòa (nơi ở của Giáo hoàng) và Giáo triều Rôma. Vì thế, dù trụ sở Giáo hội Công giáo theo nguyên tắc là Vương cung Thánh đường Thánh Gioan Latêranô (nhà thờ mẹ của các nhà thờ) nằm ở Rôma, ngoài biên giới của quốc gia, nhưng Vatican vẫn được cho là trung tâm giáo quyền của Giáo hội Công giáo Rôma.

Tên Vatican có từ thời xưa, trước khi Kitô giáo ra đời, xuất phát từ tiếng Latin là Mons Vaticanus (Đồi Vatican). Lãnh thổ Vatican là một phần của Mons Vaticanus, và sát kề Cánh đồng Vatican nơi có Đền thờ Thánh Phêrô, Điện Giáo hoàng, Nhà nguyện Sistine, nhiều bảo tàng và nhiều công trình kiến trúc khác. Năm 1929, vùng này tách biệt khỏi thành phố và nằm trên bờ phía tây sông Tiber, đây là vùng mở rộng về sau của thành phố và được bảo vệ khi Giáo hoàng Leo IV cho gộp vào trong bức tường bao quanh thành phố, và sau này được mở rộng thành những bức tường kiểu pháo đài như hiện nay bởi các giáo hoàng Phaolô III, Piô IV và Urbanô VIII.

Hiệp ước Latêranô năm 1929 quy định hình dạng hiện nay của Thành phố được khởi thảo, thực tế đa phần lãnh thổ được đề nghị đều nằm bên trong vòng tường này khiến nó được dùng để định nghĩa ranh giới. Ở một số đoạn biên giới không có tường xây khiến những dãy nhà ở đó trở thành một phần biên giới, và một phần nhỏ biên giới được xây dựng mới ở thời hiện đại. Lãnh thổ bao gồm Quảng trường Thánh Phêrô, không thể tách rời với phần còn lại của Rôma, vì thế mà có một đường biên giới ảo với Ý quốc được quy định chạy dọc giới hạn bên ngoài của quảng trường nơi nó giáp với Piazza Pio XII và Via Paolo VI. Via della Consiliazione nối Quảng trường Thánh Phêrô với Rôma qua Ponte Sant’Angelo (Cầu Thiên Thần). Con đường lớn này được Mussolini xây dựng sau khi ký kết Hiệp ước Latêranô.

Theo Hiệp ước Latêranô, một số tài sản của Tòa Thánh nằm trong lãnh thổ Ý, mà nổi tiếng nhất là Castel Gandolfo và Nhà thờ Thánh Phêrô, được trao quy chế lãnh thổ bên ngoài tương tự như đối với các đại sứ quán. Những tài sản đó, rải rác trên toàn bộ Rôma và Ý, nơi đóng trụ sở và làm việc của các định chế cần thiết cho tính chất và nhiệm vụ truyền đạo của Tòa Thánh.

Trong lãnh thổ của thành Vatican là những khu vườn thành Vatican (tiếng Ý: Giardini Vaticani), chiếm hơn một nửa diện tích lãnh thổ. Những khu vườn được thành lập từ thời đại Phục Hưng và thời kỳ Baroque, chiếm xấp xỉ 23 hecta (57 acres), chiếm phần lớn Đồi Vatican. Điểm cao nhất là 60 m (200 ft) so với mực nước biển. Những bức tường đá bao quanh khu vực trên ở phía Bắc, Nam và Tây.

Giáo hoàng là nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo chính phủ của Thành Vatican. Giáo hoàng cũng là giám mục GP Rôma, và là nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo Rôma. Danh hiệu chính thức của Giáo hoàng tại Thành Vatican là Lãnh đạo tối cao của quốc gia Vatican, là vị vua không truyền tử, nắm quyền lực tuyệt đối, bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với Vatican. Giáo hoàng là vua chuyên chế duy nhất tại Âu châu.

Giáo hoàng được bầu với quyền lực trọn đời bởi một Mật nghị Hồng y gồm các Hồng y dưới 80 tuổi. Các quan chức chính phủ chủ yếu của Vatican là Hồng y Ngoại giao (ngoại trưởng), Chủ tịch Ủy ban Nghi lễ của Vatican, và Chưởng ấn của Vatican.

Hồng y Tarcisio Bertone (người Ý) là ngoại trưởng, Tổng giám mục Giovanni Lajolo vừa là Chủ tịch Ủy ban Lễ nghi vừa là Thủ hiến Vatican. Hai vị này được Giáo hoàng Biển Đức XVI chỉ định vào tháng 9-2006.

Tháp kỷ niệm Vatican được Caligula sáng tạo một cách độc đáo bởi để trang hoàng trường đấu và cũng là vật còn sót lại đến ngay nay. Khu vực này là nơi tử đạo của nhiều Kitô hữu hồi năm 64 sau công nguyên. Truyền thuyết kể rằng Thánh Phêrô đã bị đóng đinh treo ngược vào thập giá tại nơi này. Đối diện đấu trường là một nghĩa trang tách rời với Via Cormelia. Những hầm mộ, lăng tẩm và mồ mả nhỏ cũng như bàn thờ thần ngoại của những tôn giáo khác được xây dựng kiên cố trước khi công trình quảng trường Constrantinian Thánh Phêrô được xây dựng một nửa hồi thế kỷ IV sau công nguyên. Những tàn tích của nghĩa trang tăng dần qua các triều đại giáo hoàng khác nhau suốt thời kỳ Phục hưng, cho đến khi chúng được khai quật có hệ thống theo lệnh của giáo hoàng Piô XII từ 1939-1941.

Năm 326, ngôi thánh đường đầu tiên được xây dựng trên mộ Thánh Phêrô. Từ khi xuất hiện thánh đường, bắt đầu có dân cư nhưng thưa thớt quanh quảng trường. Nơi ở của giáo hoàng nằm gân quảng trường, được xây dựng ngay từ thế kỷ V trong thời giáo hoàng Symmachus (qua đời ngày 19-6-514, triều đại từ 498-514). Các giáo hoàng trong vai trò không thuộc tôn giáo đã đến cầm quyền các khu vực lân cận, lập ra Quốc gia Giáo hoàng, có quyền lực trên phần lớn bán đảo Ý hơn một ngàn năm cho đến giữa thế kỷ XIX, khi lãnh thổ của Quốc gia Giáo hoàng bị tịch thu bởi sự thành lập của Vương quốc Ý. Trong thời gian ấy, Vatican (đúng ra là Điện Latêranô) không phải là nơi ở thường xuyên của giáo hoàng, mà là ở Avignon (Pháp quốc).

Năm 1970, tài sản của giáo hoàng bị bỏ lại trong một trường hợp không rõ ràng khi Rôma tự sáp nhập bởi Piedmontesse sau khi kháng cự yếu ớt của lính giáo hoàng. Từ những năm 1861 tới 1929, uy tín của giáo hoàng được đề cập trong cuốn “Những Câu Hỏi Về Giáo Hội Công Giáo La-mã”. Giáo hoàng không bị làm phiền tại nơi ở của mình, và được pháp luật công nhận. Nhưng giáo hoàng không được vua Ý công nhận khi ra luật ở Rôma, và họ từ chối cấp phép cho vùng đất Vatican tới khi sự bất hòa của đôi bên được giải quyết vào năm 1929. Các nước khác tiếp tục duy trì sự công nhận quốc tế rằng Tòa Thánh là một thực thể tối cao. Ý không có ý định can thiệp vào Tòa Thánh trong thành Vatican. Tuy nhiên, họ đã tịch thu tài sản của Giáo hội ở nhiều nơi, đặc biệt bao gồm lâu đài chính phủ Ý, nơi ở chính thức trước kia của giáo hoàng. Giáo hoàng Piô IX (13/3/1792 – 7/2/1878, triều đại từ 1846-1878), quốc trưởng cuối cùng của Quốc gia Giáo hoàng, đã nói rằng sau khi Rôma sáp nhập, ngài là “Người tù của Vatican”. Mốc quan trọng là ngày 11-2-1929, Tòa Thánh và Vương quốc Ý, Hiệp ước được ký kết giữa Benito Mussolini và Hồng y Pietro Gasparri đại diện vua Victor Emanuel III, và Giáo hoàng Piô XI (31/5/1857 – 10/2/1939, triều đại từ 1922-1939) đại diện Tòa Thánh. Hiệp ước Latêranô và Giáo ước (hiệp ước giữa Giáo hoàng và chính phủ một nước) đã thành lập Thành Quốc Vatican (Quốc gia Vatican), đồng thời công nhận Công giáo có vai trò quan trọng tại Ý. Năm 1984, một Giáo ước mới giữa Tòa Thánh và Ý sửa đổi một số điều khoản của Giáo ước trước đây, gồm vị thế của Công giáo như quốc giáo của Ý.

…TỚI HIỆN TẠI

Mọi lần, khi giáo hoàng qua đời thì mật nghị mới được tính đến thời gian triệu tập. Nhưng lần này, việc từ nhiệm của ĐGH Biển Đức XVI tạo ra một chuỗi sự kiện phức tạp khi chọn vị lãnh đạo Giáo hội Công giáo Rôma. Việc chuẩn bị mật nghị và luật bầu cử không thay đổi, chỉ khác là không có thời gian tang chế.

Đây là tiến trình: Tòa Thánh triệu tập một mật nghị gồm các hồng y trong khoảng 15-20 ngày sau khi việc từ nhiệm của ĐGH Biển Đức XVI có hiệu lực từ 20 giờ ngày 28-2-2013, các hồng y phải dưới 80 tuổi mới đủ điều kiện bỏ phiếu và biệt lập trong TP Vatican, đồng thời phải thề giữ bí mật.

– Hiện nay có 117 hồng y dưới 80 tuổi và có quyền tham dự mật nghị này, 67 vị được ĐGH Biển Đức XVI tấn phong hồng y. Tuy nhiên, có 4 trong số hồng y này sẽ 80 tuổi trước khi hết tháng Ba. Tùy vào thời gian tổ chức mật nghị, các vị này có thể hoặc không thể được quyền bỏ phiếu.

– Bất kỳ đàn ông nào đã được rửa tội đều có thể được chọn làm giáo hoàng, nhưng từ năm 1378 thì chỉ hồng y mới có thể được chọn làm giáo hoàng. Hai đợt bỏ phiếu vào buổi sáng và hai đợt vào buổi chiều được tổ chức tại Nhà nguyện Sistine. Ai được hơn 2/3 số phiếu trong tổng số sẽ trở thành giáo hoàng. Nhưng sau 12 ngày bỏ phiếu mà không được, ai đạt 2/3 số phiếu sẽ trở thành giáo hoàng.

– Các lá phiếu được đốt sau mỗi đợt bỏ phiếu. Khói đen là chưa có kết quả; khói trắng là đã có kết quả. Chuông đổ báo hiệu đã có giáo hoàng để tránh lầm lẫn màu khói tỏa lên từ ống khói của Nhà nguyện Sistine.

– Tân giáo hoàng được giới thiệu từ hành lang (loggia) phía bên trên Quảng trường Thánh Phêrô với lời tuyên bố: “Habemus Papam!” (tiếng Latin nghĩa là “Chúng ta có Giáo hoàng rồi!”) của vị hồng y trưởng phó tế. Và lúc đó giáo hoàng ban phép lành đầu tiên.

TRẦM THIÊN THU (tổng hợp

Tin Hội Thánh: Bầu giáo hoàng mới


Bầu giáo hoàng mới


Khi một vị giáo hoàng qua đời hoặc từ nhiệm, việc điều hành Giáo hội được trao cho Hồng y đoàn. Các hồng y là những giám mục đang coi sóc các giáo phận trên khắp thế giới, hoặc đang làm việc tại Vatican, là những vị được đích thân Đức giáo hoàng tuyển chọn. Trách nhiệm lớn nhất của các ngài là bầu chọn vị giáo hoàng mới.

Trong giai đoạn “trống tòa”, các hồng y tiến hành nhiều cuộc họp tại Vatican, được gọi là họp khoáng đại. Các ngài bàn luận về những nhu cầu và thách đố Giáo hội đang phải đối diện. Các ngài cũng chuẩn bị cho việc bầu giáo hoàng mới, được gọi là Mật tuyển viện. Những quyết định chỉ dành riêng cho Đức giáo hoàng, ví dụ bổ nhiệm giám mục hay triệu tập Thượng Hội đồng Giám mục, những việc này phải đợi đến khi bầu cử xong.

Nhớ lại Mật tuyển viện năm 2005, Đức hồng y Joseph Ratzinger (vị giáo hoàng tương lai) đã chia sẻ với các hồng y những suy tư gây ấn tượng sâu đậm. Ngài nói:

“Biết bao nhiêu ngọn gió học thuyết đã xuất hiện trong những thập niên gần đây, biết bao dòng ý thức hệ, biết bao hình thái tư tưởng… Con thuyền bé nhỏ của nhiều Kitô hữu thường xuyên bị lay động vì những ngọn sóng này, lắc lư từ thái cực này sang thái cực khác, từ chủ nghĩa Mác-xít đến chủ thuyết tự do, từ chủ trương tập thể đến chủ nghĩa cá nhân cực đoan, từ vô thần đến thứ huyền bí mơ hồ, từ bất khả tri đến chiết trung và còn nhiều thứ khác. Những giáo phái mới mọc lên từng ngày… Tuyên xưng đức tin rõ ràng theo như Kinh Tin Kính của Hội Thánh lại bị cho là bảo thủ cực đoan. Đang khi đó chủ nghĩa tương đối, nghĩa là cho phép người ta chiều theo bất cứ ngọn gió học thuyết nào, xem ra được coi như thái độ duy nhất thích hợp với con người hiện đại. Cái đang được kiến tạo ở đây chính là sự độc tài của chủ nghĩa tương đối, vốn cho rằng chẳng có gì là vững chắc, và xem cái tôi của mình, khao khát của mình, là chuẩn mực tối hậu.

Tuy nhiên chúng ta có một chuẩn mực khác, đó là Con Thiên Chúa và là con người thật sự. Người là chuẩn mực của nền nhân bản chân chính. Một đức tin không trưởng thành sẽ mãi chạy theo những làn sóng thời trang mới mẻ, còn đức tin trưởng thành và chín chắn được bắt rễ sâu xa trong tình thân với Chúa Kitô. Chính tình thân này mở ra cho chúng ta tất cả những gì là tốt lành, ban cho chúng ta tiêu chuẩn để phân định cái thật với cái giả, chân lý và giả dối. Chúng ta phải chín muồi trong đức tin trưởng thành này, và chúng ta muốn dẫn đoàn chiên của Chúa Kitô đến đức tin trưởng thành ấy. Chính đức tin ấy – và chỉ có đức tin ấy – mới tạo nên sự hiệp nhất và thực hiện sự hiệp nhất trong đức ái. Ở đây, thánh Phaolô cống hiến cho chúng ta một từ ngữ rất đẹp: sống chân lý trong đức ái, như là công thức nền tảng của đời sống Kitô giáo. Trong Chúa Kitô, chân lý và tình yêu hội tụ. Chúng ta càng đến gần Chúa Kitô bao nhiêu thì chân lý và tình yêu càng vững chắc nơi chúng ta bấy nhiêu. Tình yêu không có chân lý là thứ tình yêu mù quáng; chân lý không có tình yêu chỉ là thanh la chũm chọe!”

Rồi ngài nói thêm:

“Ai cũng muốn kiếm tìm những gì bền vững. Nhưng cái gì tồn tại mãi? Không phải tiền bạc. Những dinh thự cũng chẳng tồn tại mãi, sách vở cũng thế. Sau một thời gian nào đó, lâu hay chóng, mọi thứ đều tan biến. Điều duy nhất tồn tại đến vĩnh hằng là linh hồn của con người được Thiên Chúa tạo dựng để sống vĩnh hằng. Do đó hoa trái tồn tại mãi mà chúng ta phải gieo trồng nơi linh hồn con người là tình yêu và sự hiểu biết, là những cử chỉ chạm đến lòng người, là những lời lẽ mở lòng người ra với niềm vui của Thiên Chúa. Vì thế chúng ta hãy cầu xin Chúa để Ngài giúp chúng ta trổ sinh hoa trái, thứ hoa trái tồn tại mãi. Chỉ bằng cách đó, trái đất này mới được biến đổi từ thung lũng nước mắt thành địa đàng của Thiên Chúa”.

Thông thường, sau 15 – 20 ngày kể từ khi trống tòa, các hồng y quy tụ tại Đền thờ Thánh Phêrô để dâng Thánh Lễ, xin ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn cho việc bầu chọn vị giáo hoàng mới. Chỉ có các hồng y dưới 80 tuổi mới được bỏ phiếu trong Mật tuyển viện. Con số các vị này được giới hạn ở 120. Mật tuyển viện bắt đầu khi các hồng y được rước vào Nhà nguyện Sistine và có lời thề giữ bí mật tuyệt đối trước khi cửa Nhà nguyện được niêm phong. Các hồng y sẽ đọc chung lời thề sau:

“Chúng tôi, các hồng y cử tri, tập thể và cá nhân, hiện diện trong lần bầu chọn Giáo hoàng này, xin đoan thề và tuyên hứa tuân giữ cách trung thành và tỉ mỉ những điều khoản trong Tông thư Universi Dominici Gregis.

Chúng tôi đoan thề và tuyên hứa rằng bất cứ ai trong chúng tôi, theo sự an bài của Chúa, được bầu làm Giáo hoàng, sẽ trung thành đảm nhận sứ vụ Thánh Phêrô, làm Mục tử của Hội Thánh phổ quát, và kiên vững khẳng định, bảo vệ những quyền và tự do về mặt thiêng liêng cũng như trần thế của Tòa Thánh.

Trên hết mọi sự, chúng tôi đoan thề và tuyên hứa sẽ giữ tuyệt đối bí mật về tất cả những gì liên quan đến việc bầu giáo hoàng, cũng như những gì diễn ra tại nơi bầu chọn, trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến kết quả bỏ phiếu; chúng tôi hứa sẽ không tiết lộ bí mật này bằng bất cứ cách nào, trong hoặc sau khi bầu vị giáo hoàng mới, trừ khi được Đức giáo hoàng minh nhiên cho phép; chúng tôi hứa không bao giờ hỗ trợ cho bất cứ hình thức can thiệp hoặc chống đối nào, qua đó các quyền bính thế tục hoặc các nhóm hoặc những cá nhân có thể can thiệp vào việc bầu giáo hoàng”.

Tiếp theo lời thề chung, từng hồng y sẽ tiến đến trước Sách Phúc Âm, được đặt giữa Nhà nguyện, và nói thêm:

“Và tôi, hồng y …… xin đoan thề và tuyên hứa như thế, xin giúp con, lạy Chúa và Sách Phúc Âm mà con chạm tay tới”.




Các hồng y bỏ phiếu kín, từng người một tiến đến trước bức danh họa của Michelangelo về Ngày Phán Xét, dâng lời cầu nguyện và bỏ lá phiếu của mình. Mỗi ngày có 4 lần bỏ phiếu, cho đến khi một ứng viên nhận được 2/3 số phiếu bầu. Kết quả của mỗi vòng bỏ phiếu được xướng lên và được 3 hồng y ghi nhận. Nếu không có vị nào đạt được 2/3 số phiếu bầu, thì những phiếu này được đem đốt, trộn với hóa chất, tạo nên khói đen. Mọi người bên ngoài nhìn vào luồng khói đen thì biết là chưa có kết quả.

Khi một ứng viên nhận được 2/3 phiếu bầu, hồng y niên trưởng của Hồng y đoàn sẽ hỏi xem ngài có chấp nhận hay không. Nếu ngài chấp nhận, ngài sẽ chọn tước hiệu và mặc phẩm phục giáo hoàng trước khi tiến ra bao lơn trước Đền thờ Thánh Phêrô. Những phiếu bầu trong vòng cuối cùng được trộn với hóa chất để cho khói trắng, báo hiệu cho cả thế giới biết việc bầu giáo hoàng mới đã hoàn tất.

Vị hồng y niên trưởng trong số các hồng y phó tế, hiện nay là hồng y Jean-Louis Tauran (người Pháp), sẽ loan báo từ bao lơn của Đền Thánh Phêrô: “Habemus papam” (Chúng ta có giáo hoàng). Sau đó Đức Tân Giáo Hoàng tiến ra và ban phép lành cho thành Rôma và toàn thế giới (urbi et orbi).

(Nguồn: WHĐ)

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Việc Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từ nhiệm là một sứ điệp của năm Đức Tin


Việc Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từ nhiệm là một sứ điệp của năm Đức Tin
1.

Tin Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từ nhiệm đã và đang gây xôn xao trong mọi tầng lớp xã hội và Giáo Hội.

Đức Giáo Hoàng từ nhiệm, đó là biến cố rất bất ngờ. Bất ngờ đó gây ra trong tôi một nỗi bàng hoàng choáng váng. Lấy lại sự bừng tỉnh nhờ cầu nguyện, tôi cúi đầu lắng nghe Chúa dạy bảo. Chợt tôi nhớ lại một chi tiết nhỏ riêng tư, lần tôi được gặp Đức Giáo Hoàng lúc Ngài còn là Hồng Y Bộ trưởng Bộ Đức Tin. Trong trao đổi, tôi thấy Ngài chú ý đặc biệt đến sự gặp gỡ Đức Kitô. Như thế căn cốt của đức tin là gặp gỡ riêng tư và thân mật với Đức Kitô, để bước theo Đức Kitô.Nên trong thinh lặng nội tâm lúc này, Chúa dạy tôi hãy dùng chi tiết đó như một ánh sáng để hiểu sự từ nhiệm của Đức Giáo Hoàng.

Nhờ ơn Chúa giúp, tôi dần dần nhận ra rằng: Sự từ nhiệm của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô chứng tỏ Ngài đã và đang gặp gỡ Đức Kitô và bước theo Đức Kitô. Nhờ đó Ngài nhấn mạnh đến mấy điểm rất cần sau đây cho Năm Đức Tin:

2.

Trước hết, theo Ngài, tin là gặp gỡ Đức Kitô và bước theo Đức Kitô trong sự từ bỏ quyền lợi riêng, và bước xuống thân phận con người hèn yếu, vì yêu thương con người và để cứu chuộc loài người.

Tôi nhớ lại ở đây lời thánh Phaolô nói về nét đẹp đó của Đức Kitô:

“Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).

Đức Kitô đã bước xuống, để hoà mình, để chia sẻ, để gần gũi, để cứu chuộc loài người bằng yêu thương hoà trộn với hy sinh quên mình.

Đức Kitô đã nêu gương sáng đó cho các môn đệ Chúa. Các môn đệ Chúa hiểu sự khiêm nhường bước xuống như thế là một đặc điểm của người môn đệ Chúa.

Thánh Phêrô càng hiểu điều đó. Nên, khi được Chúa Giêsu trao trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên của Chúa, thánh Phêrô đã thề hứa với Chúa là hết lòng mến yêu Chúa. Trong lòng yêu mến đó có sự cam kết sống khiêm nhường bước xuống theo gương Chúa.

Các đấng kế vị thánh Phêrô vẫn giữ tinh thần bước xuống theo gương Đức Kitô, theo những cách khác nhau.

3.

Tuy nhiên, với những biến chuyển của lịch sử, Hội Thánh dần dần trở thành một tổ chức. Tổ chức này vừa có yếu tố siêu nhiên, vừa có yếu tố nhân loại. Một lúc nào đó, tổ chức trở thành cơ chế phức tạp, như một guồng máy nặng nề. Trong hoàn cảnh đó, vị đứng đầu Hội Thánh, dù muốn dù không, cũng phải bước lên chỗ gọi là Ngai, là Toà.

Chức cao, quyền cả đó là một vinh dự rất lớn, nhưng cũng là một trách nhiệm rất nặng nề. Nhất là khi yếu tố nhân loại chẳng may trở nên mạnh trong cơ chế phức tạp. Trong tình hình như thế, cho dù người đứng đầu Hội Thánh, kế vị thánh Phêrô, có muốn đổi mới Hội Thánh, bằng việc kêu gọi mọi người hãy tập trung vào Đức Kitô, và giới răn yêu thương của Người, thì công việc đổi mới ấy không dễ gì thực hiện được. Cản trở do những yếu tố ngoài Hội Thánh vẫn mạnh. Cản trở do những yếu tố nhân loại trong cơ chế nội bộ Hội Thánh cũng mạnh không kém.

Trước một thực tế quá nhiều thách đố như vậy, vị lãnh đạo Hội Thánh sẽ phải suy nghĩ rất nhiều. Suy nghĩ đi tới những chọn lựa. Khi chọn lựa của Ngài là sự từ nhiệm, thì chọn lựa đó phải được coi là khiêm nhường và can đảm. Từ nhiệm là bước xuống. Bước xuống để lui vào đời sống cầu nguyện, cũng vẫn là một cách đại diện cho Chúa Kitô, lo cho đoàn chiên của Chúa.

Ngài bước xuống như vậy, là nhờ đức tin. Tin nơi Ngài là gặp gỡ Đức Kitô và bước theo Đức Kitô.

4.

Hơn nữa, khi đức tin của Ngài là gặp gỡ Đức Kitô và bước theo Đức Kitô, thì Đức Giáo Hoàng bước thêm một bước nữa, đó là chịu đóng đinh mình một cách nào đó vào thánh giá.

Ở đây, tôi nhớ lại lời thánh Phaolô nói về Đức Kitô:

“Ngài lại hạ mình xuống, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thánh giá” (Pl 2,8).

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI cũng đã vâng lời đức tin cho đến cùng. Với sự từ nhiệm của Ngài, Ngài nói sơ qua về tình hình sức khoẻ của Ngài đang suy giảm. Chừng ấy thiết tưởng đã đủ, để chúng ta hiểu sự đau đớn Ngài phải chịu. Đau đớn phần xác, đau đớn phần hồn. Đau đớn do ngoại cảnh, đau đớn do nội bộ. Chính sự từ nhiệm cũng được coi là một quyết định đau đớn.

Những đau đớn ấy chính là một thứ thánh giá Ngài đang vác trên vai, và cũng là thánh giá mà Ngài như bị đóng đinh vào, để dâng mình làm của lễ, kết hợp với của lễ xưa của Chúa Giêsu trên thánh giá.

Tôi có cảm tưởng là một cách nào đó, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI muốn nhắc lại cho đoàn chiên của Ngài lời thánh Phaolô xưa: “Được thông phần những đau khổ của Đức Kitô, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Ngài trong cái chết của Người” (Pl 3,10), đó chính là hướng đi của đời Ngài.

5.

Với những cảm nghĩ trên đây, tôi coi sự từ nhiệm của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI là một sứ điệp quý giá của Năm Đức Tin.

Đọc sứ điệp này tôi thấy mình cần phải học nhiều điều.

Thứ nhất, tin là gặp gỡ Đức Kitô và bắt chước Đức Kitô.

Thứ hai, nếu tin là bắt chước Đức Kitô, thì tôi phải khiêm nhường bước xuống, để chia sẻ, hoà mình, gần gũi, và để giải cứu con người bằng tình thương hy sinh quên mình.

Thứ ba, nếu tin là bước theo Đức Kitô, thì tôi luôn phải sẵn sàng từ bỏ những gì không thích hợp với sự phát triển của Nước Thiên Chúa, để dấn thân vào những gì thích hợp hơn, theo thánh ý Chúa. Những gì không thích hợp như các công trình phô trương tốn phí. Những gì thích hợp hơn như đời sống nội tâm.

Thứ tư, nếu tin là gặp gỡ Đức Kitô và bước theo Đức Kitô, thì mọi chọn lựa của tôi luôn phải khiêm tốn và yêu thương.

Bốn điều trên đây sẽ không dễ thực hiện được, nếu không có ơn Chúa. Nên tôi phải tăng cường việc cầu nguyện và làm những việc hy sinh nho nhỏ trong đời sống thường ngày.

6.

Khi sự từ nhiệm của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI được coi là một sứ điệp của Năm Đức Tin, thì sứ điệp này không chỉ là một bài học, mà còn là một cảnh báo. Cảnh báo về một tương lai sẽ có những bất ngờ gây bàng hoàng sửng sốt. Có thể sẽ xảy ra những biến cố về sự bước xuống đau đớn và cảnh chịu đóng đinh vào thánh giá. Nơi ít nơi nhiều, những bất ngờ đau đớn đó sẽ xảy ra.

Với những bài học và những cảnh báo, sứ điệp Năm Đức Tin tiềm ẩn trong sự từ chức của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI rất đáng được chúng ta suy nghĩ trong thinh lặng nội tâm, dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần.

Cần suy nghĩ nghiêm túc, để điều chỉnh lại đời sống một cách mau lẹ. Kẻo, khi những bất ngờ đau đớn xảy tới mới tìm hướng đi, thì sẽ quá muộn.

Cần thức tỉnh mau lẹ. Đừng trì trệ, dửng dưng, khô cứng. Kẻo giờ Chúa đến bất ngờ, mà chưa chuẩn bị, thì sẽ không kịp theo Chúa đi vào Nước Trời.

Bất ngờ tiếp nối bất ngờ. Sứ điệp trong sự từ nhiệm của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI mới chỉ là khởi đầu. Ở đây, tôi nhớ tới những khủng khiếp, mà Đức Mẹ đã tiên báo ở Fatima.

Long Xuyên, ngày 13 tháng 02 năm 2013

GM. GB. Bùi Tuần

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI - Những dấu ấn trong triều đại giáo hoàng Bênêđictô XVI

 Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI

Được bầu làm giáo hoàng khi đã bước vào tuổi 78, Đức Bênêđictô XVI đã tâm sự với những người thân cận rằng, do tuổi tác và sức khỏe, có lẽ ngài không thể theo gương Đức Gioan Phaolô II trong những chuyến thăm mục vụ khắp thế giới. Thế nhưng ngài mau chóng nhận ra rằng cách tốt nhất để vươn tới mọi người là đi đến với họ, vì thế ngài đã cố gắng thực hiện, trước hết là có mặt tại Đại hội Giới Trẻ thế giới được tổ chức tại Đức, chỉ vài tháng sau khi ngài làm giáo hoàng. Trong 5 năm đầu của triều đại giáo hoàng, ngài đã đi đến 5 châu lục, 14 quốc gia, qua quãng đường 60.000 kilômét. Ngài hiểu được sức mạnh của báo chí và truyền thông, và biết rằng nếu ngài đi đến với những người nghèo ở châu Phi thì giới truyền thông cũng đi theo. Qua họ, cả thế giới sẽ nhìn thấy tình trạng nghèo khổ ở đó và hố phân cách giàu nghèo trên trái đất này, để ý thức hơn và góp phần thay đổi.

Ngay từ khi lãnh nhận sứ vụ Thánh Phêrô, Đức Bênêđictô XVI đã bày tỏ mối quan tâm đặc biệt về vấn đề đại kết. Trong Thánh Lễ đầu tiên với tư cách Giáo hoàng, cử hành tại Nhà nguyện Sistine, ngày 20-4-2005, ngài đã khẳng định đại kết là mối quan tâm hàng đầu, và ngài sẵn lòng "làm việc không mệt mỏi nhằm tái lập sự hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình giữa các tín hữu Chúa Kitô". Những tiến triển sau đó trong mối liên hệ của Tòa Thánh Rôma với Giáo hội Chính Thống, Luther, Anh giáo... cần được nhìn trong viễn tượng này.

Đức Bênêđictô XVI cũng là vị giáo hoàng của Công đồng Vaticanô II. Ngài đã có mặt tại Công đồng ngay từ đầu. Khi đó, Joseph Ratzinger còn là một linh mục trẻ 35 tuổi nhưng đã là một giáo sư thần học có tiếng tăm, được Đức hồng y Jospeh Frings của Köln chọn làm cố vấn thần học, sau đó được chọn làm chuyên viên của Công đồng. 50 năm sau, khi đã là giáo hoàng và đưa ra quyết định từ nhiệm, một trong những bài thuyết trình cuối cùng của ngài là bài nói chuyện với hàng giáo sĩ Rôma, và đề tài là về Công đồng Vaticanô II, khởi đi từ những kinh nghiệm và suy tư cá nhân của ngài. Nhắc lại những sự kiện trên để thấy Đức Bênêđictô XVI là vị giáo hoàng gắn bó với Công đồng, và điều ngài thường xuyên nhấn mạnh khi nói đến các văn kiện của Công đồng là là tính liên tục. Vaticanô II không phải là sự đoạn tuyệt với quá khứ nhưng là sự tiếp nối dòng chảy miên man của đức tin Kitô giáo trong đời sống Giáo hội. Những cải tổ phụng vụ, suy tư thần học, hoặc canh tân mục vụ cần được thực hiện trong tầm nhìn này; nếu không, không thể giải thích và áp dụng cách đúng đắn tinh thần của Công đồng.

Đức Bênêđictô XVI cũng làm nổi bật vai trò giáo huấn của Tòa Thánh Phêrô. Là một học giả và giáo sư lỗi lạc, ngài tiếp tục công việc này đặc biệt qua những bài dạy giáo lý hằng tuần và những bài giảng, những diễn văn sâu sắc trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Ngài còn dành thời giờ nghỉ ngơi thư giãn tại Castel Gandolfo để hoàn tất tác phẩm đồ sộ Đức Giêsu thành Nazareth. Cách riêng, ngài đã lưu lại cho Giáo hội 3 thông điệp quan trọng.

Thông điệp đầu tiên của Đức Bênêđictô XVI là Deus caritas est, tóm kết giáo huấn của ngài về tình yêu. Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta là nền tảng cho đời sống và dẫn đến những câu hỏi quan trọng của đức tin: Thiên Chúa là ai? Chúng ta là ai? Vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước, nên yêu thương không chỉ đơn thuần là điều răn phải giữ, nhưng là sự đáp lại của chúng ta trước tình yêu của Chúa. Tình yêu ấy bao gồm toàn bộ đời sống con người. Trong tình yêu, phải biết cho đi và cũng biết đón nhận. Khi người Kitô hữu sống thân tình với Chúa, họ học nhìn người khác bằng cặp mắt của Chúa: "Nhìn bằng cặp mắt của Chúa Giêsu, tôi có thể trao tặng người khác những gì lớn lao hơn những nhu cầu bên ngoài, tôi có thể trao cho họ cái nhìn yêu thương mà họ khao khát".

Thông điệp Spe salvi về niềm hi vọng Kitô giáo trình bày Chúa Giêsu như cội nguồn hi vọng mà nhân loại đang khao khát. Đức Thánh Cha nhận định rằng không có phương thế nhân loại nào có thể sửa lại những sai lầm khủng khiếp trong lịch sử nhân loại, như việc tàn sát người Do Thái, những tai họa trong thiên nhiên, chiến tranh và khủng bố. Không có phương thế nhân loại nào có thể mang lại sự công bằng trọn vẹn: "Không ai và không điều gì có thể trả lời cho những thế kỷ của khổ đau". Chỉ nơi Chúa Giêsu mới có sự phục sinh thân xác, mới có công bằng trọn vẹn, và mọi giọt lệ mới được lau đi.

Caritas in veritate là thông điệp xã hội, cố gắng vượt lên trên sự tương phản người ta thường nêu lên giữa công bằng và bác ái, linh đạo và phát triển, đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội, mối quan tâm của những nước giàu và nhu cầu của những nước nghèo. Đức Thánh Cha nhắc nhớ chúng ta rằng những đòi hỏi của tình yêu mang cả hai chiều kích cá nhân và xã hội. Tình yêu phải được áp dụng cho những quan hệ ở tầm vi mô (với bạn bè, với gia đình, trong nhóm nhỏ), cũng như những quan hệ ở tầm vĩ mô (xã hội, kinh tế, chính trị). Ngài phê phán thứ kinh tế thị trường mà thiếu công bằng, hỗ trợ việc giúp đỡ các nước nghèo, kêu gọi thiết lập những cấu trúc quốc tế để giải quyết tình trạng đói nghèo trên thế giới. Ngài kêu gọi tôn trọng môi sinh vì chúng ta cư xử với thiên nhiên thế nào thì thiên nhiên cũng ứng xử với chúng ta như thế. Cũng vậy, không tôn trọng quyền sống của tha nhân sẽ làm suy yếu lương tâm của xã hội, dẫn đến những hậu quả khó lường.

Chắc chắn những thông điệp này là những di sản tinh thần quý giá mà các tín hữu công giáo cần đón nhận và tiếp tục đào sâu trong suy tưởng cũng như ứng dụng trong thực hành.

(còn tiếp)

Nguồn: WHĐ